Truyện Mới :
Recent Movies

Cuộc Phiêu Lưu Của Giun Đất


Trời chưa sáng hẳn. Không gian mờ hơi sương. Khu vườn vẫn còn đang say ngủ trong tiếng dế mèn ngân nga trầm bổng. Nóc nhà tranh giữa vườn khe khẽ thở phập phồng trong giấc nồng thiêm thiếp. Một chiếc lá rụng. con chim lợn giật mình vỗ cánh bay đi... Một con Giun đất ló đầu ra quan sát rồi chú ta thận trọng chui lên khỏi mặt đất tối tăm. Chú khoan khoái vươn vai, làm vài động tác cho giãn gân cốt rồi nghiêng đầu thì thầm:

-Chà, sao mà cảnh đẹp thế này! Những giọt sương mới óng ánh làm sao! Những đám mây hồng đang bềnh bồng tuyệt vời quá! Ồ, tiếng chim sẻ! Không một âm thanh nào sánh bằng...

Chú trườn mình về phía trước, toàn thân chú có màu đỏ sậm và thẳng băng lướt theo nhịp đi. Chú ta khịt khịt mũi khi bò ngang qua một con bọ hung nhỏ đang loay hoay lăn một viên đất đen. Thái độ Giun đất khinh khỉnh:

-Gớm, cuộc đời mày bao giờ cũng chỉ có vậy.

Bọ hung đáp lời:

-Ông anh chắc không phải từ dưới đất chui lên sao?

Giun đất chẳng thèm dây dưa nhiều lời, chú ta bỏ đi, bụng nói thầm mình sẽ tìm một hành động khác lạ để thực hiện mới đáng anh hùng. Chú ta dứt khoát sẽ chọn một chuyến phiêu lưu hấp dẫn gây cấn nhất, thế là cư dân trong khu vườn này sẽ trợn mắt lên vì khâm phục cho coi. Nhưng biết phiêu lưu về phương trời nào đây?

Mặt trời lúc này đang bò lên dốc, chiếu muôn vàn tia nắng óng ánh xuống khắp mặt đất. Lũ gà bới lạo xạo dưới một gốc mít già, mỏ liếp nhiếp liên hồi. Chúng đang giành nhau một con châu chấu. Xì, gà nhà bôi mặt đá nhau... Giun đất ta triết lý một câu rồi chui vào một khe đất hẹp. Tránh voi đâu hổ mặt nào. Cái lũ này nó cũng thích nhấm nháp loại giun béo bổ lắm đấy.
Lát sau Giun đất ngoi lên và cứ thế mà bò đi thẳng về phía mặt trời mọc. Gặp một chị cuốn chiếu mảnh mai trên đường, chú nói to:

-Tạm biệt bà chị nhé, tôi đi xa đây.

-Ồ, đi xa là đi tới tận đâu.

-Một chuyến phiêu lưu rất bí mật.

Mặc cho chị cuốn chiếu há to miệng vì kinh gnạc, Giun đất tảng lờ lướt tới với vẻ phớt đời kênh kiệu. Chú đi mãi, đi mãi, qua hết bờ này đến bụi nọ, gặp ai chú cũng báo rằng chú đang đi phiêu lưu mạo hiểm. Thật là chấn động!

Một con Sùng đất ngoi lên đon đả:

-Mời anh ghé vào nhà em nghỉ chân.

-Nghỉ chân thì nghỉ chân. Sao cô dạo này trắng trẻo và mập mạp dữ vậy? Cuộc sống thế nào rồi?

Sùng đất khoe của:

-Dạo này trời mưa, em dư ăn dư mặc nên mới vậy.

-Mừng cho cô lắm. Thôi tôi đi đây.

-Anh ở thêm vài phút nữa cho ráo mồ hôi cái đã.

-Đời phiêu lưu giang hồ mà cô bảo tôi phải nấn ná ư?

Giun đất làm ra vẻ lịch lãm và từng trải, nghiêng đầu tạm biệt. Chú vừa đi vừa suy nghĩ đến cuộc sống của Sùng đất, chuyên phá hoại rễ non, làm cho biết bao cây con chết héo vậy mà cô ta vẫn an phận béo trương béo nứt. Một lũ đục khoét ghê tởm!

Chú ta thong thả tiêu hóa một ít đất bùn và tự bằng lòng về mình vô cùng. Trên đời này, ai có ích cho đất bằng Giun ta?
Bầu trời cao và trong xanh. Một con chim bay liệng vòng quanh trên ngọn xoài đôi ba lượt rồi đáp xuống tổ. Lập tức có mấy cái đầu nhỏ xíu xinh xắn nhô lên... Giun đất thích quá, nảy ra một ý:

-Phải rồi, ta sẽ xây nhà trên cây. Từ trên cao, ta sẽ quan sát rõ mọi việc xảy ra trong khu vườn này.

Giun đất bắt đầu kỳ cạch bò lên, được vài bước, chú ta mất thăng bằng té lộn nhào xuống gốc cây bẹp dí. Chà, khó khăn thật đấy, nhưng càng khó khăn thì càng vinh quang chớ sao! Chú ta lại lò mò bò lên và lần này thì lựa đoạn vỏ cây xù xì cho chắc ăn. Được một quãng ngắn, gặp đám lá cây rậm rạp, Giun đất dừng lại suy nghĩ: làm tổ ở đây vừa kín đáo, vừa không cao lắm, lỡ... có té cũng chẳng đền nỗi nào...

Chú ta loay hoay mãi trong chùm lá, vặn vẹo thân hình cho đỡ mỏi. Chợt... Bịch. Giun đất rơi xuống như là một giấc mơ, đầu óc chú ta quay cuồng, chú nằm im thin thít rồi thiếp ngủ đi hồi nào không biết.

Một con Sâu chạm bộ lông dày vào Giun đất, hỏi:

-Nửa đêm rồi, anh không dậy sớm đặng còn phiêu lưu tiếp sao?

Giun đất làu bàu nhỏ trong miệng:

-Đã sáng đâu? Ta cần ngủ thêm lát nữa.

Trăng lên sáng ngời, Giun đất lặng lẽ bò đi tiếp. Nó cảm thấy mình không thể nào làm tổ trên cây như mấy con chim có cánh được. Vậy thì Giun ta sẽ lợp nhà bằng lá giống loài kiến bé tí cũng không sao. Điều quan trọng là Giun ta phải khác xa các đồng loại của nó thường hay chui rúc trong đống đất đen kia...

Vừa đi vừa suy nghĩ, trăng lặn dần và bình minh đang ló dạng mà Giun đất cũng không để ý. Chợt chú ta nhìn thấy một bụi lồng mức mới nhú, cành là khá rậm rạp có thể làm tổ được. Giun đất nhún mình đu toong teeng rồi quấn đuôi vào một nhánh lá nhỏ. Cao hứng, chú ta lộn đầu, vắt mình nằm ngang, hát to:

Giun đất nhanh nhẹn
Lộn đầu một vòng
Tài ba nhất xứ
Có ai sánh bằng!

Thế nhưng có cái gì nhói đau ở trên lưng, ở dưới bụng làm Giun đất vội vã ngoái đầu. Trời! Kiến vàng! Lọt vào tay bọn này là tiêu xác không kịp giãy dụa nữa!

Giun đất buông mình rớt phịch xuống đất. Hai gã kiến vàng bám không chắc nên đã văng ra hai bên và Giun ta chui tọt vào trong đất. Chú trườn sâu trong lòng đất mát rượi an toàn, thở phào một cái, cảm thấy nỗi bình yên tuyệt vời bao bọc chung quanh...

Giun đất định bụng trở về. Phải, phiêu lưu làm gì khi quê nhà mình xinh đẹp nhất? Đất là tổ ấm ngọt ngào mà không một tổ chim hay tổ kiến nào sánh nổi.

Giun đất đã tìm ra một chân lý tuyệt vời, chú ta hiểu Quê Hương là chốn thiêng liêng chẳng thể nào mình từ bỏ được. Từ đây Giun đất sẽ chấm dứt mộng phiêu lưu viễn vông, vì Giun đất thuộc về Đất và cần cho Đất. Chớ còn ai vào đây nữa?

truyen co tich cuoc phieu luu cua giun dat

Bà Mụ Của Cu Tương


Truyện Cổ Tích Bà Mụ Của Cu Tương - Cu Tương khoái chí lắm khi khoe với các bạn trong lớp vỡ lòng rằng nó có những mười bốn Bà Mụ, mẹ nó bảo thế. Cô Ven-ôsin đọc cho nó nghe tờ công đức mới trên ban thờ, ghi rằng bố mẹ nó đã cúng tới một nửa quả chuông ở chùa .. chùa.. gì Mụ ấy, ai cũng phải lác mắt khi đọc số tiền tới chín con số trong tờ biên nhận công đức của nhà nó. Mẹ cu Tương hể hả nói rằng nhờ thế mới xin được chư Tiên chư Phật ban thêm cho thằng Tương một Bà Mụ nữa, để chăm sóc và độ trì cho thằng bé ở mọi lúc mọi nơi, bù cho bố nó là ông tướng thật nhưng cứ đi biền biệt, có lúc nào để ý đến con được đâu.

Cái Mi ngồi cạnh nó bảo:

- Xì, tưởng gì. Tớ á, tớ có mười.. mười sáu Bà Mụ cơ!

Thằng Tin thì đếm đếm các đốt ngón tay rồi tuyên bố:

- Tao có.. có hai mươi bà cơ. Mới đầu anh cu này định nói có một trăm Bà Mụ, nhưng thấy số ấy hơi nhiều, bọn chúng sẽ bảo là nói phét nên cu cậu giảm xuống con số hai mươi.

Tương ta tức ơi là tức. Nó có mười bốn Bà Mụ rõ ràng, cứ nghĩ là nhiều hơn bọn ở lớp, vì mẹ nó bảo mọi đứa trẻ đều có mười hai Bà Mụ và chung nhau một bà Chúa Mụ nữa, tính cả bà ấy vào mới là mười ba. Biết thế từ đầu nó khoe ngay là có năm mươi bà, có phải hơn chúng nó không?!
Tức lắm, tức cha chả là tức! Khi một thằng bé tức, thường là mắt với tai nó đỏ lên, vai với gáy thì râm ran như bị rôm đốt. Nhưng đã chót nói rồi, bây giờ có bảo rằng mình có tới một trăm bốn mươi Bà Mụ, bọn chúng nó cũng chẳng chịu thua đâu. Vậy nên tối hôm ấy, khi đi ngủ nó khấn thầm trong mồm, rằng nó muốn các bà làm thế nào để các bạn trong lớp biết rằng nó đúng là có mười bốn Bà Mụ, và có hơn một Bà Mụ thì phải có điểm gì hơn những đứa khác một cách rõ ràng. Cu Tương cứ lẩm nhẩm trong mồm, khấn rất lâu vì vẫn thấy mẹ nó bảo "có khấn có thiêng, có kiêng có lành", cho đến khi Bà Mụ Ngủ phải lướt nhẹ bàn tay qua mi mắt, để cho thằng bé ngủ thiếp đi.

Các Bà Mụ luôn luôn quan tâm tới đứa trẻ mà các bà đã nhận việc chăm sóc, chúng muốn điều gì các bà cũng biết ngay, vì các bà lúc nào chẳng ở sát bên cạnh đứa bé của mình. Vậy nên ngay lập tức cu Tương thấy mình đang đi chơi với cái Mi, thằng Tin, thêm cả thằng Hên lớp bên cạnh, ở một công viên rộng mênh mông có đủ ao hồ, sông suối, vườn chim, vườn thú. Công viên ấy có núi xanh để trượt cỏ nhá, lại có cái hang Âm-Ti tối thui, đứa nào bạo gan lắm mới dám bước vào, nhưng đã bước vào thì vừa run vừa sướng với bao nhiêu thứ kì lạ, chưa từng thấy có ở bên ngoài.

Bốn đứa trẻ con nhưng cả thảy có tới bốn mươi chín Bà Mụ đi cùng. Bà Chúa Mụ chẳng bao giờ đi với đứa trẻ nào đâu, bà ấy chỉ ngồi ở một nơi theo dõi và nhắc nhở các Bà Mụ khác, vì bà ấy chỉ huy tất cả các Bà Mụ cơ mà. Đông như vậy nhưng nhóm nào ra nhóm đó, chẳng hề va vào nhau vì các bà có thể di chuyển hoặc bay rất nhanh theo các huớng, còn độn thổ cả xuống dưới đất nữa cơ. Các bà xúm quanh đứa trẻ mình nhận bảo hộ, bốn đứa lại đứng gần nhau nên chúng không nhận ra bà nào là của đứa nào.

Tuy nhiên Cu Tương nhận ra bà Mụ Thứ Mười Bốn của mình khá dễ dàng, vì rằng các Bà khác đều mặc áo xanh trong khi bà này mặc áo vàng, mũ vàng, hài vàng. Mọi thứ đều mạ vàng, là bộ đồ lễ mẹ nó mới sắm thêm hôm qua, hóa riêng cho bà ấy.
Cu Tương khoái lắm. Thế là đúng rồi! Rõ ràng mình nó có mười ba Bà Mụ, hơn chúng nó một bà, còn bà Chúa Mụ là của chung không nói làm gì. Tuy vậy cả ba đứa kia đều đang hớn hở vì được đi chơi, mải mê với nhiều trò lạ nên tụi chúng chẳng để ý đến chuyện các Bà Mụ mặc quần áo màu gì và bà nào là của nhà đứa nào.

Sau khi ra khỏi hang Âm-Ti, bọn trẻ chạy tới chỗ chiếc cầu thăng bằng. Không như ba đứa kia, cu Tương đặc biệt để ý đến các Bà Mụ, nó thấy các bà ấy luôn luôn giúp đỡ hoặc uốn nắn cho đứa trẻ của mình nhiều thứ. Đứa nào làm cái gì vụng về (chúng làm mà không để ý đâu), lập tức có một Bà ngay cạnh đấy làm lại động tác ấy một cách khéo léo, thế là đứa trẻ của bà tự nhiên làm lần thứ hai khéo gần như vậy, mặc dù Bà Mụ chẳng cần phải giảng giải hoặc nói to "các em nhìn xem rồi bắt chước mà làm nhá" như các cô giáo dạy ở lớp nó.

Lúc còn ở trong hang Âm-Ti, cái Mi cố vươn người ra để vớt bông hoa màu đỏ rất đẹp nổi lập lờ trên mặt nuớc, đến mức tí nữa thì lộn cổ khỏi con thuyền. Một Bà Mụ bay dập dờn cạnh nó liền cúi xuống, lấy tay vớt vớt mặt nuớc khiến nuớc chảy về phía mình kéo cả bông hoa dạt đi theo. Bà ấy chỉ vớt có hai lần- cu Tương nhìn rõ lắm, còn chính cái Mi lại chẳng để ý đến động tác của bà- thế mà tự dưng nó cũng vớt nuớc theo kiểu của Bà Mụ và lấy được bông hoa, con bé thích lắm cứ đưa bông hoa lên vẫy vẫy những người ngồi trên chiếc thuyền khác đi ngang.

Thế mới gọi là các Bà Mụ chứ! Thật là cực kì. Mẹ nó bảo chính các bà ấy đã phân chia nhau nặn từng bộ phận như cái chân, cái tay, tóc tai mặt mũi, rồi ghép thành đứa trẻ con trong bào thai, khi chúng ra đời mỗi bà lại nhận một nhiệm vụ dạy dỗ và săn sóc đến hết tuổi ấu thơ của chúng. Bà thì chuyên dạy trẻ con cười, bà dạy cách ăn, ngủ, lẫm chẫm đi lại.., chẳng thế mà mỗi đứa trẻ phải có đến mười hai Bà Mụ.

truyen co tich ba mu

Anh Chàng Nghèo Khổ


Truyện Cổ Tích Anh Chàng Nghèo Khổ - Ngày xưa có hai mẹ con một anh chàng nhà nghèo rớt mùng tơi. Anh chàng lang thang đi kiếm việc làm nhưng chả có ai thuê cả. Mãi sau có một chủ thuyền buôn thấy anh khỏe mạnh lại biết bơi lội mới thuê làm thủy thủ. Hắn hứa cho anh cơm một ngày ba bữa và bốn mươi quan tiền trả trước. Anh chàng mừng rỡ tưởng không có hạnh phúc nào hơn thế nữa, vội cầm ba mươi quan đem về cho mẹ tiêu, còn mười quan thì mang theo định để dành may mặc. Thuyền cất hàng, vượt biển luôn năm ngày đến một thị trấn lớn. Trên bến người mua kẻ bán chen chúc như hội. Bọn thủy thủ bảo chàng: truyen co tich
- Ở đây thứ gì cũng buôn được. Cứ mua một ít đưa về quê nhà bán là tự khắc có lãi.
Anh chàng xưa nay không quen buôn bán nên cầm mười quan tiền trong tay chưa biết nên mua thứ hàng gì. Bỗng chốc anh thấy có một người mang ra bến một con chó bị trói toan vứt xuống sông. Lấy làm thương, anh vội ngăn lại và hỏi duyên cớ. Người ấy cho biết chó này là của chủ mình. Hôm nay chủ đi chợ mua thịt về dọn tiệc, không rõ cắt đặt thế nào để chó ăn vụng mất cả. Chủ tức giận trói chó đánh một trận thừa sống thiếu chết rồi sai đi buông sông. Nghe kể thế, anh chàng xin mua lại con chó. Người kia cười mà rằng:
- Nó chỉ chuyên môn ăn vụng, anh mua về làm gì? truyen viet nam
Chàng đáp:
- Thây kệ, cứ bán cho tôi đi!
Cuối cùng anh chàng xỉa ra ba quan mua lấy con chó, cởi trói cho nó, đoạn xích lại bên chỗ mình làm việc.
Sau đó một chốc, anh lại trông thấy có một người đàn bà mang một con mèo toan vứt xuống sông. Anh chàng vội ngăn lại và hỏi duyên cớ. Khi biết tội trạng của mèo cũng chỉ là ăn vụng, anh nài nỉ để con vật lại cho mình. Thấy người đàn bà khuyên can không nên mua thứ mèo xấu nết, anh không nghe và nói:
- Thây kệ! Chị cứ bán cho tôi đi! co tich viet nam
Thế là cuối cùng mèo cũng thoát chết. Và người chủ mới của nó sau khi xỉa ra ba quan để mua, đem buộc lại gần bên con chó.
Ngồi một mình trên thuyền, thấy buồn, anh chàng bèn bỏ thuyền lên bộ đi dạo bờ sông. Bỗng chốc anh thấy có ba đứa trẻ chăn trâu bắt được một con rắn nước, toan dùng roi xử tội. Anh chàng vội chạy lại ngăn cản:
- Các em đừng đánh nó, nó là rắn nước, có làm hại ai đâu?
- Mặc kệ chúng tôi – bọn trẻ đáp – Chúng tôi bắt được nó, chúng tôi đánh, ông cản làm gì?
Thấy bọn chúng khăng khăng cố tình giết rắn, anh chàng lại dùng tiền để cứu con vật vô tội. Chúng đòi năm quan. Mãi sau anh mới bớt được một. Thế là tất cả số tiền mang theo đều lần lượt vợi đến hết. Mua được con rắn, anh vội thả xuống sông cho nó trở về xứ sở. Bọn thủy thủ khi nghe anh kể lại những việc mua bán của mình thì đều cười ngất, cho là một người khờ dại ít có. Anh chỉ ngồi lặng yên không nói gì cả.
Khi thuyền bắt đầu trở về, vào khoảng nửa đêm, anh đang chèo bỗng thấy con rắn nước bơi từ dưới sông bơi lên trao cho mình một viên ngọc và nói: co tich
- Cha tôi là Long Vương, cảm ơn anh đã cứu mạng tôi, cho tôi đem biếu anh một viên ngọc “băng xuyên” để mời anh xuống chơi. Mang ngọc vào mình, anh có thể đi được dưới nước cũng dễ dàng như đi trên bộ.
Anh chàng nghe nói vội buông chèo đi theo rắn nước xống Thủy phủ. Quả nhiên, anh được vua Long Vương tiếp đãi rất hậu, tống tiễn ngọc vàng châu báu rất nhiều. Sau đó anh được người của Long Vương đưa về tận nhà. truyen
Chủ thuyền thấy mất hút anh, tưởng anh đã rơi xuống nước, bèn đỗ thuyền lại, lên bộ trình với xã sở tại. Nhưng khi mọi người về đến quê hương thì họ rất lấy làm ngạc nhiên, vì anh thủy thủ trẻ tuổi đã về đến nhà ba ngày trước rồi.
Từ đó anh trở nên giàu có. Nhưng anh vẫn sống một cuộc đời bình thường với người mẹ già. Con chó, con mèo được anh cứu vẫn theo anh không rời. Về sau, anh lấy vợ. Vợ anh là một cô gái đẹp. Nàng rất thích đeo nữ trang. Thấy viên ngọc “băng xuyên” chiếu sáng một góc tủ, nàng thích lắm nên một hôm lấy trộmg mang đến cho một người thợ kim hoàn bảo đánh cho mình một chiếc ngẫn. Không ngờ, người thợ kim hoàn biết là ngọc quý ít có trong thế gian, bèn đi kiếm một viên khác tương tự như thế đánh tráo vào mà cướp lấy bảo vật.
Khi biết rõ chuyện mất cắp, anh chàng thủy thủ trở nên buồn bã. Hàng ngày anh ra bờ sông mong tìm lại con rắn nước nhưng chả làm sao gặp được. Chó và mèo thấy chủ không vui, một hôm nói với chủ xin đi tìm viên ngọc.
Đường đi đến nhà người thợ kim hoàn phải qua một con sông rộng. Không có cách gì vượt qua cả, hai con vật cứ loanh quanh ở trên bờ. Về sau chúng nó tìm được vào nhà một con rái cá. Chúng kể sự tình cho rái cá nghe và nhờ nó đưa giúp qua sông. Rái cá vui lòng gọi các bạn bè của nó đứng sát vào nhau, kết thành một cái bè cho chó và mèo ngồi lên lưng, chở qua sông yên lành.
Khi đến nhà người thợ kim hoàn, mèo bảo chó:
- Để tao trèo lên nóc nhà kêu lên mấy tiếng cho những con chó trong nhà xúm lại sủa. Thế là mày cứ đường hoàng theo cổng mà vào không ai biết.
Quả nhiên, bầy chó nhà của người thợ kim hoàn nghe mấy tiếng mèo kêu vội xông ra đuổi. Mèo dẫn chúng đi thật xa nên chó ta lẻn vào nấp dưới một cái hầm, vô sự.
Khi hai con vật gặp lại nhau, chúng tìm tòi khắp trong nhà. Tất cả của cải của lão thợ kim hoàn đều bỏ trong một cái rương xe, luôn luôn khóa kín, không dễ gì lọt vào được. Mèo bèn cố sức tìm tòi, chụp bắt được một con chuột. Chuột van lạy xin tha mạng. Mèo bảo nó dẫn mình đến gặp chuột chúa đàn. Mèo nói rõ cho chuột chúa biết việc mình đến đây, và nhờ hắn giúp mình lấy cho được viên ngọc, đổi lại, mèo hứa sẽ luôn luôn để ý không phạm đến tôn tộc nhà chuột ở đấy. Chuột chúa đàn vâng lời ngay:
- Để tôi bảo lũ con cháu, tôi tớ trong nhà khoét chiếc rương của nó ra, tìm cho các ông.
Nhưng đến khi lọt được vào trong rương, lũ chuột tìm mãi vẫn không thấy ngọc. Chuột chúa đàn ra báo lại cho mèo biết, và nói:
- Trong rương này có một cái hộp bằng bạc. Có lẽ nó giấu ngọc trong đó; cái hộp đó thì khó lòng mà gặm được.
- Vậy làm thế nào bây giờ? – Mèo hỏi.
- Chỉ có cách là chúng tôi sẽ nhờ xóm giềng hợp sức cùng chúng tôi khoét rộng lỗ thủng làm sao đưa lọt cái hộp ấy ra đây cho các ông tìm.
- Thế thì làm gấp lên đi!
Chỉ trong một đêm, cả xóm nhà chuột đã gặm nát rương, lấy được cái hộp đưa ra cho mèo. Hai con vật tìm cách phá hộp ra, quả thấy viên ngọc của chủ. Chúng vô cùng mừng rỡ.
Sau khi ra khỏi nhà người thợ kim hoàn, chó tranh mèo mang ngọc. Nhưng đến lúc sắp sửa sang sông, vì mắng nhau với một con chó khác, nên chó đã để ngọc văng xuống nước. Một con cá trông thấy ngọc sáng vội bơi tới đớp và nuốt ngay.
Thấy chó để mất ngọc, mèo giận quá mắng chó một trận thậm tệ. Chó biết lỗi, lặng thinh, cuối cùng mếu máo:
- Biết làm sao bây giờ?
Suy nghĩ một lát, mèo tìm được một kế bảo chó:
- Chúng ta sẽ tìm đến một nhà thuyền chài ở vùng này xin ở với họ. Thế rồi chờ khi họ câu được con cá đã nuốt viên ngọc thì sẽ kiếm cách cướp lấy đem về.
Chó khen mưu kế hay, bèn cùng mèo tìm đến một gia đình ông chài đang đỗ thuyền lại ở bờ sông phơi lưới. Hai con vật cỏ ra rất khôn ngoan, hiền lành nên được cả nhà đối đãi tử tế.
Mấy hôm sau, ông chài đánh mẻ lưới được một con cá chày rất lớn, mổ ruột ra, thấy có viên ngọc. Chó và mèo khấp khởi mừng thầm. Trong khi cả nhà đang trao ngọc cho nhau để xem của lạ, thì mèo lẹ làng tiến lại cọ người vào chân chủ. Nhân khi chủ sơ ý, nó nhảy lên ngoạm lấy viên ngọc và lập tức cong đuôi nhảy lên bờ chạy mất. Thấy thế, chó cũng ba chân bốn cẳng chạy theo làm mấy bố con ông chài ngơ ngác chẳng hiểu vì sao.
Lần này mèo tranh chó mang ngọc. Mèo lên mặt khôn, bảo chó:
- Lần trước ngậm bị rơi mất, lần này có cách rất hay là đội lên đầu. Sắp đến nhà rồi, chả sợ gì nữa.
Nó nói thế nào thì làm như thế.
Nào ngờ mới đi được một quãng đường, bấy giờ có một con quạ đang bay trên không trung, nhác thấy có cái gì lấp lánh trên đầu mèo, thình lình sà xuống đớp lấy rồi bay lên đậu trên cành cây cao. Thấy ngọc lại mất, chó đến lượt mắng chửi mèo rất dữ, rồi nói:
- Ngọc rơi xuống nước còn có thể lấy được, chứ bay lên trời thì đừng có hòng.
Mèo buồn rầu, nhưng ngẫm nghĩ một lát, nó lại bảo chó:
- Đúng rồi. Tao đã nghĩ ra được một kế.
Chó hỏi:
- Kế gì?
Đáp:
- Giả chết bắt quạ.
Nói xong mèo chạy xuống bờ sông uống một bụng nước đầy căng. Đoạn trở về xua chó trốn đi một chỗ, còn mình thì tới nằm dưới gốc cây phơi bụng trắng hếu giả vờ chết.
Quạ đang ngậm ngọc đậu trên ngọn cây nhìn xuống thoáng thấy có bóng con vật chết, vội vàng bay xuống toan rỉa thịt. Nhưng khi quạ vừa đáp tới thì mèo đã nhảy xổ lên vồ lấy quạ. Quạ van lạy xin trả lại viên ngọc cho mèo để được tha mạng. Mèo chỉ đợi có thế, ngoạm lấy viên ngọc, ra đi.
Lần này, cả hai con đưa ngọc về đến nhà vẹn toàn. Anh chàng thủy thủ lấy lại được món tặng vật của Long vương hết sức vui mừng. Hắn càng thêm quý mến hai con vật có tình có nghĩa.

truyen co tich anh chang ngheo kho


Cô Bé Talasha


Truyện Cổ Tích Cô Bé Talasha - Talasha là một cô bé thông minh và lanh lợi, cô bé xinh đẹp như một con búp bê. Talasha sống cùng bố mẹ, bà và em trai trong một ngôi làng nhỏ bên núi, cuộc sống của họ vô cùng bình yên. Một ngày kia, bố của Talasha bị nhà vua phái đi đánh trận, rồi sau đó ông bị chết nơi chiến trường, cả nhà Talasha vô cùng đau buồn. Như vậy thật không công bằng, nhà vua thì thắng trận, còn bố tôi thì không trở về được nữa.

Talasha buồn đến mức không muốn lớn lên nữa. Và rồi từ ngày hôm đó, Talasha không hề lớn thêm lên, đến khi các bạn cùng lứa với cô chuẩn bị lấy chồng thì cô vẫn thấp nhỏ như một cô bé con. Các bạn thông cảm với hoàn cảnh của Talasha và nói với cô:

- Bạn bé nhỏ như vậy thì chẳng ai lấy bạn cả.

Talasha trả lời:

- Tớ chẳng lấy ai cả.

Thời gian sau, mẹ Talasha vì quá đau buồn và làm việc vất vả quá nên sinh ra đau ốm, mọi công việc trong nhà đều đè nặng lên vai bà nội.

- Talasha bé nhỏ à, nếu mà cháu lớn nhanh chút nữa, giúp bà được một số việc thì tốt biết bao!” – Bà nói.

Talasha nghe bà nói vậy, cô lén đi ra thử nhấc một thùng nước, nhưng không có cách nào nhấc được , cô lại thử cõng một bó củi, nhưng kết cục không cõng được bó củi mà còn ngã trầy xước cả đầu gối.

truyen co tich co be talasha



Màn Đêm Không Thủng



Truyện cổ tích Màn Đêm Không Thủng - Ngày xửa ngày xưa, khi mới tạo thiên lập địa, nghe nói chẳng có ngày đêm gì cả, lúc nào cũng như lúc nào, thật là bất tiện. Vì chẳng biết lúc nào là ngày, lúc nào là đêm, quanh năm ngày tháng lúc nào cũng sáng chưng. Chẳng hạn như chuyện rửa mặt: chẳng biết nên rửa mặt lúc nào, thật là khó ở làm sao ấy. Muốn ăn cơm tối, nhưng trời có tối đâu, thật là khó xử.

Dĩ nhiên là ngày xửa ngày xưa, làm gì đã có cái gì tiện như cái đồng hồ để mà xem giờ. Thành thử, mọi người, thôi thì ai muốn thức dậy lúc nào thì thức dậy, muốn ăn tối lúc nào thì ăn tối, nhưng mà phải nói là khó ăn khó ở quá đi mất. Ai lại, nhà này vừa thức dậy đang rửa mặt, thì nhà bên cạnh lại đang ăn cơm tối, có phải là hai bên ra vào trông thấy nhau mà lúng ta lúng túng, phải không nào?

Nhưng cứ như thế mãi thì thôi cũng đành cho cam, đằng này chỉ được ít lâu sau sự thể còn khốn khổ hơn thế nữa cơ, chứ không phải chỉ có thế thôi đâu nhé. Đó là vì lúc ban đầu, mặt trời mới ra lò còn mới tinh thì ánh sáng còn mờ nhạt, nhưng dần dần như có trớn rồi thì cứ sáng rừng rực, và nóng muốn bỏng cả lên ấy chứ. Đến nước này thì không làm sao mà ngủ yên giấc được. Ai nấy đều mặt mày phờ phạc vì thiếu ngủ, bèn cùng ngồi lại rì rầm bàn bạc nhỏ to:

-Ít nhất là lúc người ta ngủ, Trời làm ơn cất hộ mặt trời đi cho người ta nhờ, có được không nhỉ ?

-Ừ phải đấy, Trời đã là Trời thì có cái gì mà chẳng biết.

-Tuy nhiên dù sao thì Trời cũng ở xa mãi tít trên mây, nên chắc là Trời không biết rõ chuyện của chúng mình ở dưới này đâu.

Thế là tất cả bèn quyết định sai người đi sứ đến Nhà Trời

-Sai ai đi bây giờ đây?

-Xem thử nào ! Có lẽ sai chim én đi đến Nhà Trời được việc đấy.

-Ờ, là vì ai chứ chim én thì từ sáng sớm đã thích bay lên thật cao mà kêu chim chíp rồi.

Thế là chim én được sai lên kêu với Trời.

-Anh chim én này, phiền anh chịu khó lên đến Nhà Trời, thử xin với Trời là lúc bọn mình đang ngủ thì Trời làm ơn cất hộ mặt trời đi có được không nhé.

-Anh thử nói kheo khéo với Trời, là lấy cái gì thật to như cái mâm hay cái khăn furoshiki ( để buộc làm tay nải) ấy che lại một tí, để dưới này khỏi trông thấy mặt trời.

Chim én cũng đang khổ sở vì mặt trời cứ nóng bỏng lên làm cho cánh chim bị cháy khét, nên chẳng cần phải năn nỉ ỉ ôi, chim én nhà ta đã nhận lời đi ngay.

Thế là chim én vừa kêu " Chíp ! Chíp ! Chíp ! Nóng ! Nóng ! Nóng ! " vừa bay vút lên trời.

Nóng quá đến nỗi óc trong đầu muốn gần chín rục đến nơi, lên được đến Nhà Trời thì chim én đã mụ cả người, chỉ còn biết ghé vào sát tận mang tai Trời kêu chim chíp rối rít như hét mà phân trần sự tình dưới đất.
Nghe chim én kể, Trời giật mình bảo :

-Thế à ? Ở dưới ấy khổ thế sao !

Rồi Trời bèn gọi tất cả các cô thợ dệt trên trời lại. Thợ dệt Nhà Trời là mấy cô con gái cứ lách ca lách cách dệt cửi ấy mà ! Gì cơ ? Nhà Trời sao lại có thợ dệt ? Hả ? Thế là không biết gì cả nhé ! Thế này nhé : mây giăng trên trời này, sương mai này, cầu vồng này, tất cả đều là tơ lụa do các cô thợ dệt này dệt ra cả đấy chứ !

Trời gọi các cô thợ dệt lại bảo :

-Lúc này không phải là lúc cho chúng bay đủng đỉnh ngồi dệt mây với sương mai hay cầu vồng đâu. Hãy đệt ngay cho ta một tấm vải đen tuyền, mau lên ! Một tấm vải thật lớn trùm được cả thế giới ấy!

Thế là các cô thợ dệt hối hả lo dệt ngay một tấm vải thật lớn. Tấm vải ấy chính là màn đêm.

-Xong chưa ? Xong chưa ?

Trời giục giã. Trần đời Trời đã làm đêm bao giờ đâu, nên Trời cũng lúng túng không biết phải làm thế nào cho vừa vặn. Trời chẳng có thì giờ đâu mà nghĩ đến những sinh vật ở dưới đất, Trời cứ thế cầm mép của màn đêm mà tung ra, như thể tung lưới cá cho mở bung ra, thoáng cái màn đêm đã úp chụp xuống, trùm kín cả hạ giới.

-A ! Thế là xong việc ! Tốt ! Tốt ! Suýt nữa là mất cả thanh danh của Nhà Trời, vì "Trời đã làm thì không thể sai được !" mà lại !

Trời yên tâm, thấy nhẹ cả người.

Thế nhưng ở dưới đất bây giờ thình lình bỗng bị tối sập xuống, cũng khổ ơi là khổ !

-Mát thì cũng có mát thật, dễ ngủ thật đấy. Nếu chỉ có thế thôi thì không ai phàn nàn điều gì nữa. Nhưng mà như thế này thì chẳng biết lúc nào là đến đêm. Thử nghĩ mà xem: kẻ đang đi trên đường, thình lình bị trời tối sập xuống, tối như hũ nút, thì phỏng làm sao có thể thản nhiên như không được. Nhỡ va phải thân cây thì có mà bươu trán, nhỡ bị lọt xuống sông thì có mà chết đuối. Tất cả đều đến khổ vì đêm. Lại thêm đêm tối ập xuống úp chụp ngay trên đầu, bí bực đến muốn ngạt thở, không sao chịu nổi.

Khổ sở hơn cả là lũ chim chóc. Như quạ nhà ta, thường đậu trên cây, đến tối ngủ mê mà nằm mớ, mới vỗ cánh vài cái bay lên là vướng vào màn đêm, thế rồi đến sáng bị trời cuốn lại đem cất đi chung với màn đêm, rút cuộc không trở về trần thế được nữa !
Thế là loài vật lại họp nhau lại để bàn tính:

-Không phải là chúng ta dám chê trách những việc Trời làm, thế nhưng không biết Trời có cách nào làm phúc cho bọn mình được nhờ một tí nữa không nhỉ ?

-Cái này cũng là tại chim én vụng về, không biết cách kêu với Trời. Vả lại, bị chim én kêu chim chíp rối cả lên thế thì có đến là Trời cũng phải cuống cả lên ..

-Ờ phải đấy. Vậy lần này ta chọn ai đi sứ nhà trời cho được việc đây ?

-Cò thì sao ? Cò có đôi cánh khỏe mà lại biết phép lịch sự.

Thế là lần này, cò được sai lên kêu với Trời

Cò mà kêu xin điều gì thì nhất rồi còn gì !

-Dạ bẩm Trời, Trời làm đêm sao mà tuyệt vời đến thế. Thật đúng là "Trời làm" có khác! Chúng tôi phận hèn, thật chẳng đáng được hưởng ơn mưa móc từ Trời. Vạn tạ ơn Trời !

Mở đầu cò nói thế, bảo sao mà Trời không mát lòng mát dạ, nói gì mà Trời chẳng xiêu lòng.

-Thế nhưng, bẩm Trời, thật đáng tiếc, thật là đáng tiếc !

-Ơ, đáng tiếc chuyện gì cơ chứ ?

-Dạ bẩm, Trời quăng màn đêm bung ra đột ngột quá, nên màn đêm bị vướng vào ngọn cây trên đỉnh núi, bị thủng lỗ chỗ. Màn đêm tuyệt vời là thế mà bị thủng, tiếc quá ạ !

-À ra thế, thế thì đáng tiếc thật !

-Vì thế, phải chi mà Trời làm màn đêm thật rộng, để đừng bị vướng vào đỉnh núi thì hay biết mấy ạ.

-À, ra thế.

-Nhân thể, xin Trời mắc màn đêm cao lên cho chim chóc chúng tôi có bay lên cũng không đụng phải thì hay biết chừng nào.

-Ừm, thế à? Vậy ta hẵng thử làm thế xem sao.

-Đã vậy, tiện thể, xin Trời mở màn đêm ra từ từ, từ từ thôi ạ, để cho tất cả nhìn thấy rõ vẻ đẹp tuyệt trần của đêm tối, như vậy hay biết bao..

-À, thế à. Mở từ từ, từ từ thôi à ?

Chuyện là như thế, nên từ đó về sau, màn đêm được mở ra từ từ, từ Đông sang Tây. Thế mà mãi cho đến bây giờ giòng họ nhà quạ vẫn không quên chuyện bị cuốn vào màn đêm, nên hễ vừa mới thấy một mép của tấm màn đêm sắp buông xuống, là

quạ ta bắt đầu nhớn nhác kêu quạ quạ ầm ĩ cả lên và vội vàng bay về tổ

Nhờ thế, đêm không còn buông sát đỉnh đầu, sáng ra màn đêm cũng không còn bị cuốn đi một cách đột ngột làm mặt trời lộ ra chói lòa lóa cả mắt.

Gì cơ ? Sao lại bảo người ta chỉ bịa đặt láo lếu ? Làm gì có chuyện thế ư ?Này, này nhé, còn chứng cớ nào rõ rệt hơn là đến tối, cứ thử ngửng lên nhìn trời mà xem thì biết ! Đấy ! Trên trời có những chỗ sáng nhấp nháy ấy là những vết thủng lỗ chỗ trên tấm màn đêm, khi Trời tung màn ra vướng phải ngọn cây trên đỉnh núi. Đây đó còn có những vết thủng vì mỏ chim mổ vào, hay bị ngọn cây tuyết tùng trong khu rừng trấn thủ chọc thủng.
Chỗ mà bây giờ gọi là giòng sông Ama no gawa ( Thiên Hà ) là chỗ màn đêm đã phủ lên trên đỉnh những rặng núi trùng điệp, nên đầy những lỗ thủng đấy thôi.

Có điều là màn đêm có những lỗ thủng và sáng lấp lánh như thế hóa ra có khi lại tiện lợi, cho nên loài vật dưới đất cũng đã quen với màn đêm cũ mà không còn kêu ca điều gì nữa.

Được thể, Trời cứ thế dùng mãi cái màn đêm cũ ấy, mà không chịu thay màn mới. Thế nhưng thực ra là Trời đã lén cho dệt một cái màn mới hẳn hoi đấy nhé.

Sao cơ ? Sao lại biết được chuyện ấy hả ? Thì cứ đến tháng 6 hay tháng 7, có phải là có những tối màn đêm không có một lỗ thủng nào, trời tối bưng, tối như hũ nút ấy là gì nào? Đấy, đấy chính là cái màn đêm mới đấy !

Ơ ! Sao lại bảo là người ta nói láo ? Đấy chỉ là những tối trời mưa thôi à ? Làm gì có chuyện thế ! Đó là lúc Trời muốn ngắm đom đóm, nên chỉ vào những tối ấy Trời mới đem cái màn đêm mới ra dùng. Cảnh đom đóm bay lập lòe trong đêm mờ ảo đẹp đến nỗi Trời cũng phải ngẩn ngơ đấy mà...

truyen co tich man dem khong thung

Ba Chiếc Lông Chim


Ngày xưa có một ông vua. Nhà vua có ba người con trai. Hai người con đầu thông minh, sáng trí. Người con thứ ba ít nói và đần độn nên mọi người gọi là thằng ngốc.
Khi đã già, biết mình chẳng còn sống bao lâu nữa, nhà vua suy nghĩ, không biết chọn đứa nào trong ba người con trai sẽ thừa kế ngai vàng. Rồi nhà vua nói với các con:
- Các con hãy ra đi, ai mang cho cha tấm thảm mịn đẹp nhất, đứa đó sẽ là vua sau khi cha khuất núi.
Để cho các con khỏi tranh cãi nhau, nhà vua dẫn ba con ra trước hoàng cung, thổi cho ba chiếc lông chim bay và nói:
- Lông chim bay về đâu thì các con đi về đó.
Một chiếc bay về hướng đông, một chiếc bay về hướng tây, chiếc thứ ba bay thẳng và rơi ngay gần đó. Một người anh đi về phía tay phải, một người anh đi về phía tay trái. Cả hai cười nhạo báng người em thứ ba, người ở lại với chiếc lông chim thứ ba.
Thằng ngốc ngồi buồn rầu. Bỗng nó thấy ở bên cạnh chiếc lông chim có nắp hầm. Nó nâng nắp hầm lên thì thấy có bậc thang đi xuống. Thằng ngốc bước xuống thì thấy có cửa đóng kín. Nó gõ cửa thì nghe có tiếng vọng ra:
Này các thiếu nữ thanh tú
Này bà già béo ụ kia
Cả con chó của bà nữa,
Mau ra mở cửa, xem ai đứng chờ!
Cửa từ từ mở, chàng thấy một con Cóc lớn mập với bầy cóc con. Cóc lớn mập hỏi chàng có mong muốn gì. Chàng đáp:
- Tôi muốn một tấm thảm mịn đẹp.
Nó sai một con Cóc con và nói:
Này các thiếu nữ thanh tú
Này bà già béo ụ kia
Cả con chó của bà nữa,
Lấy ra đây một hộp lớn.
Cóc con mang hộp ra. Cóc lớn mập mở hộp lấy ra một tấm thảm đưa cho thằng ngốc. Chưa bao giờ lại trông thấy một tấm thảm dệt mịn đẹp như vậy! Chàng cám ơn và bước lên.
Hai người anh thì cho thằng em là đồ khờ khạo, chẳng làm nên trò trống gì. Hai người nghĩ bụng:
- Ta tội gì mà phải tốn nhiều công trong chuyện này.
Họ mua ngay một tấm thảm thô của một người chăn cừu, rồi mang về trình vua cha. Cùng lúc đó thằng ngốc cũng trở về, mang theo tấm thảm mịn đẹp. Nhà vua ngạc nhiên khi thấy thằng ngốc lại có tấm thảm đẹp nhất, nhà vua bảo:
- Nếu đúng như lời ta nói thì vương quốc này thuộc con út.
Hai người anh không để cho vua cha yên thân và nói:
- Không thể để cho thằng ngốc làm vua được, nó làm gì cũng chậm chạp.
Hai anh xin vua cha đặt điều kiện mới khác. Nhà vua nói:
- Ai mang được về đây chiếc nhẫn đẹp nhất sẽ trị vì vương quốc này.
Nhà vua dẫn ba con ra trước hoàng cung, rồi thổi cho ba chiếc lông chim bay. Hai người anh - người đi về hướng đông, người đi về hướng tây - đi theo hướng lông chim bay. Thằng ngốc đi thẳng về phía chiếc lông chim thứ ba rơi, nơi có nắp hầm. Nó đi xuống dưới hầm nói với Cóc lớn mập, rằng nó cần một chiếc nhẫn tuyệt đẹp. Cóc cho mang ra một cái hộp, rồi mở lấy cho chàng chiếc nhẫn đẹp nhất.
Hai người anh cười thầm trong bụng về chuyện thằng ngốc cũng đòi tìm nhẫn vàng. Họ chẳng phải đi đâu xa, cạy ngay ở xe tứ mã một chiếc nhẫn và đem về trình nhà vua.
Đến lượt thằng ngốc trình nhẫn, nhà vua xem rồi nói:
- Vương quốc này là của thằng thứ ba.
Hai người anh không chịu, hành hạ nhà vua bằng những lý do này khác cho tới khi nhà vua đồng ý đặt điều kiện thứ ba. Nhà vua nói:
- Vương quốc này sẽ thuộc về người mang được một người vợ đẹp tuyệt trần về đây.
Nhà vua lại thổi ba chiếc lông chim bay. Ba chiếc lại bay ra ba hướng như trước.
Thằng ngốc chẳng đi đâu xa, nó tới chỗ Cóc lớn mập và nói:
- Tôi phải mang được về nhà một người vợ đẹp tuyệt trần.
Cóc đáp:
- Ái chà, người vợ đẹp tuyệt trần à! Làm sao có ngay được. Nhưng rồi chàng cũng có thôi!
Cóc đưa cho thằng ngốc một củ cải rỗng ruột và cỗ xe có sáu con chuột kéo. Thằng ngốc thấy thế than:
- Tôi biết làm gì với những thứ đó?
Cóc bảo:
- Cứ bế đặt một con cóc con lên xe!
Chàng cứ thế làm theo. Bỗng cóc con biến thành người đẹp tuyệt thế giai nhân, củ cải biến thành cỗ xe ngựa. Sáu con chuột thành sáu con ngựa. Chàng hôn người đẹp, đánh xe về hoàng cung trình diện nhà vua.
Hai người anh vào ngay trong làng, chọn thiếu nữ đẹp đem về trình nhà vua. Nhà vua ngắm nhìn một lượt và phán:
- Sau khi ta khuất núi thì con út sẽ lên nối ngôi.
Hai người anh nói nhiều tới mức nhà vua nhức tai đau đầu và la ầm ĩ:
- Không thể có chuyện thằng ngốc lại làm vua!
Hai người đòi nhà vua phải cho ba cô dâu thi tài với nhau, bằng cách họ phải nhảy qua vòng treo ở giữa đại sảnh. Hai người anh nghĩ bụng:
- Hai thiếu nữ nông thôn khỏe mạnh nên chắc dễ dàng nhảy qua vòng. Còn cô gái yểu điệu kia sẽ chết vì nhảy thôi.
Nhà vua cũng đành ưng thuận cho thi tài. Hai thiếu nữ nông thôn dễ dàng nhảy qua, nhưng đều bị trẹo chân tay. Cô gái yểu điệu của thẳng ngốc nhảy lướt nhẹ qua vòng như hươu nhảy. Thế là hai anh chẳng ca thán được nữa. Em út được nối ngôi, trị vì đất nước trong cảnh thái bình thịnh vượng.

truyen co tich ba chiec long chim

Lưỡi Dao Thần


Xưa kia, có một em bé ở đợ chăn trâu cho nhà giàu. Đàn trâu nhà này đông lắm, không ai chịu cho em chăn chung. Quanh năm em phải một mình chăn riêng đàn trâu, giữa chốn rừng hoang, đồng vắng. Chẳng có ai trò chuyện. Đến bữa, tuy nắm cơm của mình đã ít ỏi, em cũng bẻ đôi, lấy một nửa vãi ra cho lũ chim ăn cho vui.

Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trầu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy. Lo mất trâu, sợ chủ đánh, em liền theo bờ sông ngược lên, đi tìm. Đến chỗ con sông khúc, nước xoáy tròn như chong chóng, hai bên bờ có nhiều cây lạ, hoa thơm, cỏ non tươi tốt, thì gặp đàn trâu. Đúng trưa, mặt trời đỏ rực như một chậu lửa. Nóng quá, em xuống sông tắm. Có một con rùa nước chỉ bằng quả trứng, bị hòn đá to đè lên một chân. Con rùa quẫy mài mà không sao rút chân ra được. Em bé thương con rùa, đến vần hòn đá cứu sống nó. Từ đó trở đi, hôm nào em cũng đuổi trâu đến đấy. Vì cây cỏ chỗ này tươi tốt bốn mùa.

Ngày tháng trôi qua, đàn trâu đã trông gấp đôi. Em bé cũng đã trở thành một chàng trai khoẻ mạnh. Một hôm chàng trai đang ngồi dưới bóng cây, vãi cơm cho chim ăn, bỗng nghe gió thổi ào ào, cỏ cây bốn bên ngã rạp. Chàng nhìn lên trời, thấy ba chị em cô tiên vạch mây bay xuống. Ba cô tiên đáp xuống chỗ xoáy nước cởi áo để bên bờ, rồi cùng lội ra tắm. Ba cô đều đẹp, nhưng cô út xinh nhất. Chàng chăn trâu muốn lấy cô này làm vợ, liền lẻn ra lấy bộ xiêm áo của cô rồi vào bụi ngồi. Mặt trời đã đứng bóng. Các cô tiên sắp sửa về cõi tiên, nhưng cô tiên út bị mất xiêm áo, ngồi trong bụi cây, cô tiên cả vỗ tay ba cái. Chiếc áo liền bay vụt ra, còn chàng chăn trâu thì nằm lăn ra chết. Từ hôm ấy trở đi, khi mặt trời tròn bóng, ba cô tiên đều xuống đây tắm. Còn xác chàng chăn trâu thì đã thối rửa, hoá bọ, hoá giòi. Có một con giòi rẽ đám, bỏ ra, rơi xuống sông, gặp con rùa bị đá đè, được chàng chăn trâu cứu dăm năm về trước, cũng đang luẩn quẩn ở đây.

Con rùa này là con vị Thủy thần, khi đi chơi, bị mắc cạn, nhờ ơn cứu sống, con rùa chờ dịp đáp đền. Hôm nay, con rùa biết chàng chăn trâu bị chết, nên đến đây cứu. Trông thấy con giòi rơi, rùa đến ngửi hơi, biết là chàng chăn trâu đang chết ở đây. Rùa bò lên bờ, tìm được. Nó nhỏ vào cái thây chết ba giọt nước bọt. Chàng chăn trâu sống lại, ngồi thẳng lên, người khoẻ mạnh gấp mấy lần trước kia. Rùa bảo chàng:

- Ơn người, ta đã đền rồi! Nay ta bảo cho thêm một cây thuốc sống. Giữ cây thuốc sống này bên mình, người sẽ sống mãi. Có ai chết, lấy cây thuốc này chỉ vào người chết sẽ sống lại.

Nói xong, rùa biến mất. Chàng chăn trâu chưa hết ngơ ngác bàng hoàng, đã thấy cây thuốc trước mắt. Cây thuốc chỉ bằng que tăm, xanh như lá mạ, hai đầu bằng nhau, chẳng biết đâu là gốc đâu là ngọn. Chàng xé vải áo cài cây thuốc vào. Ba cô tiên lại vạch mây bay xuống. Tưởng không còn ai, cả ba cô vứt bừa khăn áo trên bờ, chạy ùa xuống nước. Có cây thuốc sống chàng trai chẳng sợ chết nữa, đi thẳng đến lấy chiếc áo của cô thứ ba cắp vào nách, đứng nhìn. Ba cô tiến trông thấy, chạy ùa lên bờ, vỗ tay, hoá phép. Chàng vẫn đứng trơ trơ. Hai cô chị sợ quá, vội vàng tranh lấy áo mặc, bay về trời. Còn cô thứ ba ở lại, làm vợ chàng chăn trâu.

Lấy được người vợ xinh đẹp, nhưng chàng chăn trâu vẫn sống trong cảng nghèo nàn. Tuy vậy, vợ chồng ăn ở hoà thuận. Sau một năm, hai người đã sinh một đứa con trai. Một hôm, vào giữa mùa cây, chàng đuổi trâu đi chăn. Vợ chàng ở nhà, trút bồ thóc ra phơi. Trông thấy chiếc áo tiên chiếc áo tiên chồng giấu dưới đáy bồ, cô vợ đem ra ướm thử. Đi đã lâu, cô tiên nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ chị, nhớ cả làng tiên, nên bay vút lên trời. Khi đuổi trâu về, thấy nhà vắng, con khóc, bếp không có lửa, chàng chạy vào tìm chiếc áo tiên, thì chiếc áo đã mất. Biết vợ đã về trời, chàng đứng ngồi không yên. Thương xót, khóc kể... Chàng bế con đi tìm vợ, không biết bao giờ mới trở lại nhà cũ cảnh xưa. Trước khi đi, chàng bế con đến thăm lại chỗ xoáy nước. Con rùa lại chờ chàng ở đó. Rùa cho chàng thêm hai viên thuốc, một thanh đao, và dặn:

- Thuốc phải uống ngay mỗi người một viên. Còn thanh đao thì chớ để mất. Bao giờ gặp tai biến, đao sẽ tự giải nguy.

Chàng chăn trâu cho con uống một viên thuốc. Đứa bé mới biết ngồi, bỗng to lớn khoẻ mạnh hơn cha. Chàng uống luôn viên thuốc còn lại. Người chàng cũng cao hơn, khoẻ hơn trước kia năm bảy lần, đủ sức đi cùng trời cuối đất. Chàng liền đeo vào lưng, cầm cây thuốc sống trong tay, đưa con đi thẳng về hướng mặt trời mọc.

Đi được ba tháng, cha con chàng gặp một con rác. Con rác cao như bụi tre, chân to bằng chân cột đình. Rác thích ăn lươn sống. bắt hai cha con chàng đi tìm lươn cho nó ăn. Nó bảo:

- Nếu cha con mày trốn, tao sẽ cắt đứt đầu. Trong vòm trời này, chỗ nào tao bay cũng đến, trốn đâu tao cũng tìm được.

Có cây thuốc sống trong mình, hai cha con chàng không sợ chết, nhưng biết không làm sao trốn khỏi đôi cánh to như mái đình của con rác, nên phải chịu nghe nó để lần hồi tìm kế thoát thân. Ngày ngày, hai cha con chàng chăn trâu phải ra đồng, bắt cho nó mấy giỏ lươn. Đến mùa mưa bão, nước ngập trắng đồng, không còn chỗ bắt lươn. Con rác đói, nuốt người bố vào bụng nó, mà không bị trầy da, rách thịt. Có sẵn cây thuốc sống trong người, chẳng biết ngạt, biết đau, chàng cựa quậy, cào xé trong ruột con rác. Bị đau, nó vùng vẫy, lăn lộn, giẫm quang một vùng cây rậm rạp. Cuối cùng, con rác phải chịu thua. Nó bảo:

- Tao không bắt mày đi tìm lươn nữa! Cha con mày muốn đi đâu thì đi...

- Mày chẳng làm sao hại được tao. Mày không thả tao cũng chả cần!

Chàng chui lên cổ con rác nói vọng ra những lời đó, rồi cào cấu mạnh hơn.

Con rác nài nỉ:

- Tao cho hai cha con mày hai cái lông của tao, nó rất cần cho những người đi biển.

Để con rác sống e cản trở đường đi, chàng rút dao cắt đứt ruột nó, rạch bụng chui ra, nhổ hai cái lông cánh, rồi đưa con đi tiếp về phía chân trời. Cha con chàng đi chẳng bao lâu đã hết đất, đến biển. Biển rộng mênh mông, nước xanh ngắt, sóng đập ào ào. Xung quanh vắng lặng, chẳng có người qua lại cũng chẳng có thuyền bè ngược xuôi. Hai cha con chàng đem thanh dao vào rừng đẵn một cây to, khoét ruột làm một chiếc thuyền. Người con lấy nước trầu của cha đang ăn sơn lên thành chiếc thuyền màu đỏ. Lại lấy hai cái lông của con rác cắm đứng lên, đợi gió. Hai cái lông to xoè rộng như hai cánh buồm. Chờ đến ngày nổi gió, hai cha con chàng đẩy thuyền ra biển. Gió mạnh, thuyền rẻ sóng chạy băng băng, nhanh hơn ngựa hay chạy trên đất liền. Mặc cho gió đổi hướng, con thuyền vẫn chạy theo ý định của hai cha con. Chạy qua bên kia biển, con thuyền gếch mũi lên không. Gió lại thổi mạnh. Chiếc thuyền bay bổng lên trời, bay thẳng đến động tiên. Tiên cha đang ngồi xem sách thấy thuyền lao vút đến, liền hỏi các con:

- Đứa nào xuống trần mắc nợ, để người trần lên quấy thiên cung?

Cô tiên thứ ba thú tội "Trót để nhớ thương cho một người chăn trâu nghèo khổ". Tiên cha nổi giận, truyền trói cô tiên ấy lại, rồi giục quân ra chặn đánh, không cho hai cha con chàng chăn trâu vào làng tiên.

Quân tiên đổ ra đông như một bầy ong, vây chặt chiếc thuyền. Anh chăn trâu xưa nay chưa hề biết chuyện cung kiếm, cũng như chưa bao giờ thấy quân hùng tướng mạnh, nay gặp quân nhà trời, người anh run cầm cập, một tay cầm dao, một tay ôm chặt "cây sống" vào người. Người con trai cũng chưa biết đánh chác ra sao, nên cứ cầm thanh dao nhìn qua, nhìn lại. Bỗng không biết từ đâu, có tiếng nói vọng đến tai anh: "Bao giờ quân nó đến gần, lật lưỡi dao lên, chúng nó sẽ đứt cổ, thủng bụng".

Anh vững dạ, cầm chắc thanh đao, mắt lăm lăm nhìn quân tiên tràn tới. Khi quân tiên còn cách mình ba bước, anh lật lưỡi dao lên. Tiên cha lại giục quân ra thêm. Nhưng quân tiên ra thêm bao nhiêu, cũng đều bị lưỡi dao thần giết chết.

Hai cha con chàng đi thẳng vào thiên cung. Quân tiên sợ trốn hết, chỉ còn cô tiên bị trói đứng đó. Chàng tiến đến cởi dây. Vợ chồng, mẹ con gặp nhau, vừa mừng vừa tủi. Cô dẫn con và chồng đến xin lỗi cha. Tiên cha hết phép hết quân nên phải bằng lòng để cho cô tiên út trở về trần gian. Chàng chăn trâu đưa vợ con trở lại chỗ chiếc thuyền. Chiếc thuyền bay thẳng một mạch từ thiên cung về biển, rồi từ biển vào đất liền, ngược theo một con sông trở về làng cũ.

truyen co tich luoi dao than


Cáo và Dê Con


Ngày xưa có một chú dê con đang nhú sừng nghĩ rằng mình đã lớn và có thể tự lo cho mình được. Thế nên vào một buổi chiều, khi đàn dê từ đồng cỏ bắt đầu quay về chuồng thì dê mẹ gọi, nhưng dê con chẳng thèm nghe và cứ kiếm cỏ non gặm tiếp. Lát sau, khi nó ngẩng đầu lên thì đàn dê đã về hết.

Nó chỉ còn lại một mình. Mặt trời đang lặn xuống. Các bóng cây đổ dài trên mặt đất. Một cơn gió nhẹ lạnh run lướt qua đồng cỏ rít lên những tiếng động đáng sợ. Dê con rùng mình sợ hãi khi nghĩ đến tên Cáo khủng khiếp. Nó bắt đầu chạy lung tung khắp cánh đồng, kêu be be mẹ ơi mẹ. Nhưng mới được một tí, tên Cáo bỗng xuất hiện, gần một bụi cây!

Dê con biết là mình chẳng còn nhiều hy vọng gì nữa.

“Cháu xin ông, ông Cáo,” dê con run rẩy nói, “cháu biết là ông sẽ ăn thịt cháu. Nhưng trước khi ăn, xin ông hãy thổi kèn lên giúp cháu, vì cháu muốn được nhảy múa cho vui vẻ trước khi chết.”

Cáo thấy trước khi ăn được nghe nhạc chút ít cũng thích thú, nên nó liền lấy kèn thổi cho Dê Con nhảy múa tưng bừng.

Trong lúc đó, đàn dê đang trên đường từ từ trở về chuồng. Trong buổi chiều im ắng tiếng kèn của Cáo được gió thổi đi xa. Mấy chú chó chăn dê vểnh tai lắng nghe. Chúng liền nhận ra bài Cáo vẫn thường hát trước khi ăn, chỉ một thoáng, chúng đã phóng như bay trở lại cánh đồng cỏ. Cáo đột ngột ngừng thổi, và bỏ chạy, nhưng không còn kịp nữa vì lũ chó đã đến gần, nó bèn trách mình sao ngu ngốc đi thổi kèn để làm vui lòng dê, thay vì cứ để tâm đến cái công việc sát sinh của mình.

Đừng bao giờ để bất cứ việc gì gây sao nhãng mục tiêu chính của mình....

truyen co tich cao va de con

Chú Thỏ Tinh Khôn


Từ ngày xửa ngày xưa đồng bào người Việt gốc Khơ Me ở đồng bằng sông Cửu Long vẫn thường kể chuyện về một chú thỏ tinh khôn. Chuyện của chú nhiều và dài lắm, vì trí khôn của chú lớn và chiến công của chú kể hết năm này qua năm khác không thể hết được.

Một hôm thỏ đang nằm ngủ dưới một gốc cây sung. Bỗng một quả sung chín rụng rơi đánh bốp một cái giữa đầu thỏ. Vốn nhát, thỏ giật bắn mình chồm dậy và chạy. Chạy như gió cuốn, chạy như bay. Hổ thấy thỏ chạy thì cản đường hỏi tại sao thỏ chạy. Thỏ trợn mắt nói:

- Không chạy thì chết mất ngáp. Đất đang sụt dưới chân ầm ầm kia kìa... Chạy đi thôi...

Hổ nghe hoảng hồn, cũng cắm đầu chạy đứt hơi đuổi theo thỏ. Nhưng hổ làm sao mà đuổi kịp.

Thỏ chạy trước còn hổ thì vừa chạy vừa thở phì phò như kéo bễ. Thần Gió Giêvata cười phì bảo:

- Hổ ơi sao mày to xác thế mà để thằng thỏ nhãi ranh nó lừa mày. Đất có bao giờ sụt đâu mà cần phải chạy.

Nghe thần gió, hổ tin ngay liền tìm thỏ để trừng phạt cho bõ tức. Nhưng thỏ bình tĩnh hỏi:

- Bác hổ ạ, bác ăn thịt cháu cũng được thôi, nhưng phiền một nỗi là toàn thể loài vật vừa bầu cháu làm vua rồi. Bác từ nay cũng phải coi cháu là vua. Nếu bác không tin bác cứ thử đi với cháu mà xem. Chắc hơn hết bác cứ để cháu ngồi lên lưng, ta đi dạo một vòng, nếu không đúng là các loài sợ oai vua của cháu thì bác cứ việc ăn thịt.

Hổ ngờ ngệch bằng lòng cõng thỏ đi một vòng rừng, đi đến đâu trăm loài đều sợ sệt bỏ chạy. Họ chạy vì hổ mà hổ cứ tưởng họ sợ oai thỏ thật. Lúc ấy thỏ mới ra oai quát hổ rằng:

- Nhà ngươi thấy chưa! Trăm loài trong rừng đều sợ ta. Thế mà nhà ngươi còn dám láo với ta. Lần này thì ta tha, vì nhà ngươi chưa biết oai của ta là vua của núi rừng, lần sau ta sẽ trị tội nghe không!...

Hổ sợ quá đành vâng lời.

Lừa hổ xong, thỏ cũng bỏ trốn luôn, nhưng vì bụng đói, thỏ muốn trở lại bãi cỏ xanh non bên bờ suối. Thỏ đã định phóng mình chạy ra đấy nhưng chợt nhớ lần trước mình đã lừa cá sấu nếu ra cá sấu có thể giết chết mình mất. Thỏ sợ đành gậm cỏ trong rừng vừa già vừa khô. Ăn mãi chán quá, thỏ tự nhủ có thể cá sấu quên chuyện cũ rồi chăng. Ra đến nơi thấy cá sấu bận ngủ không để ý gì đến thỏ, thỏ càng tin là cá sấu đã quên chuyện cũ thật. Ai ngờ cá sấu cũng rất cao tay, lừa thỏ đến gần bèn chẳng nói chẳng rằng há mồm ra đớp gọn, chỉ còn chờ nuốt vào trong bụng nữa là hết đời con thỏ tinh khôn. Thỏ sợ quá, rụt rè hỏi:

- Này bác cá sấu, bác có định ăn thịt cháu thì ăn nhanh lên cứ ngậm mãi làm gì, cháu sợ lắm.

Cá sấu cười mím miệng:

- Hút... hút... hút... tao sẽ làm cho mày sợ chết khiếp... chết khiếp... chết khiếp... trước khi nuốt mày vào bụng... hút... hút... hút...

Thỏ nhận ngay ra rằng muốn giữ mồm, mõm cá sấu dài phải mím chặt nên chỉ cười hút... hút được mà thôi... Thế là thỏ ta cười vang:

- A ha, buồn cười quá... buồn cười quá... cá sấu ngọng nên cứ phải kêu hút... út... làm sao ta sợ được... Muốn ta sợ mày phải cười ha... ha... cơ... chứ thế này thì buồn cười đến đứt ruột mất thôi.

Cá sấu tức quá quát:

- Tao mà ngọng à... thằng thỏ ranh... nghe đây... dỏng tai mà nghe ta cười đây... ha... ha... ha...

Để cười ha ha cá sấu phải ngoác miệng ra, thế là lập tức thỏ nhảy tót ra khỏi mệng cá sấu và quay lại dạy cá sấu rằng:

- Này thằng cá sấu ngu ngốc kia... Nghe đây... Từ nay trong miệng đang ngậm mồi thì chớ có cười ha ha nghe không...

Dứt lời thỏ chạy vào rừng.

Một lần có người muốn thử tài của thỏ, bèn đưa cho thỏ một cái đơn kiện vô cùng tối nghĩa. Đơn viết rằng: "Cách đây ít lâu, có người lấy trộm của tôi một con trâu. Không phải trâu đực cũng không phải trâu cái. Không phải năm ngoái cũng không phải năm nay, người lấy không phải họ hàng, cũng không phải người ngoài".

Thỏ chuyển đơn kiện lên các quan, các quan đều ngơ ngác chẳng thể nào hiểu được lá đơn kiện nói gì, phải nhờ thỏ giảng giải rằng:

- Vụ mất xảy ra vào đêm ba mươi Tết. Vì đêm đó có thể gọi là đêm cuối cùng của năm ngoái, nhưng cũng có thể coi là ngày đầu tiên của năm nay. Còn con trâu bị mất trộm không phải là trâu đực cũng không phải là trâu cái chỉ có thể là trâu thiến. Mà kẻ lấy trộm dứt khoát là thằng rể. Vì chỉ có thằng rể mới không phải là người trong nhưng lại không phải là người ngoài họ.

Nghe thỏ giải thích các quan toà đề phải kính phục. Lúc đó, quan toà đang đau đầu về một vụ kiện không cách nào xử được, vội xin thỏ xử giùm. Vụ kiện đầu đuôi như sau:

Có một người cưới vợ. Anh ta yêu quý vợ đến nỗi suốt ngày chẳng muốn rời nửa bước. Nhưng rồi đến buổi loạn ly anh phải đăng lính, không đi không được. Người vợ tiễn chồng đi hết đường này đến đường khác không nỡ rời tay. Đến mãi gốc cây đa kia, người chồng mới dừng lại tâm sự biết bao nhiêu điều, mãi đến khi trống thúc quân vang dậy, loa thét động trời, người chồng mới đành dứt áo ra đi. Không ngờ ở gốc đa có một con yêu tinh. Nó nghe hết mọi điều tâm sự của hai vợ chồng, lại thấy người vợ xinh đẹp, nó đành nghĩ ra một kế độc. Vài hôm sau nó bèn giả dạng thành người chồng vác gươm, giáo về quê hương nói rằng vua không bắt lính nữa. Vì biết tất cả mọi điều riêng tư của hai người nên con yêu tinh làm cho người vợ cứ yên trí đây là chồng mình thật không một chút nghi ngờ gì.

Người chồng sau một thời gian chinh chiến được hồi hương, anh mừng lắm vội vã về nhà đập cửa gọi vợ. Người vợ mở cửa thì thấy lạ quá, ngoài cửa cũng là chồng mình. Người chồng trong nhà quát hỏi người chồng ngoài cửa rằng:

- Mày ở đâu mà dám giả dạng là tao để nhận xằng vợ tao.

Người chồng mới về uất ức vặn lại:

- Người đàn bà này chính là vợ tao, tao mới cưới được vài ngày thì phải đăng lính. Mày ở đâu đến mà dám nhận xằng vợ tao là vợ mày.

Hai bên cãi nhau chẳng bên nào chịu bên nào, đến người vợ cũng đành chịu, vì hai người giống nhau quá, không thể nào phân biệt được ai là chồng thật ai là chồng giả.

Việc đưa lên quan, quan cũng đành chịu. Vừa may có thỏ ta nổi tiếng quan toà, nên chính quan toà nhờ thỏ xử hộ.

Thỏ bèn hỏi hai người chồng rằng:

- Ai là chồng thật của người đàn bà này?

Cả hai người đều tranh nhau nhận. Thỏ gật gật đầu ra vẻ suy nghĩ rồi bảo cả hai người rằng:

- Nếu là chồng thật thì phải biết trong cái hũ nào của vợ giấu một viêm kim cương. Chị vợ đâu mang hết hũ nhà chị ra đây!

Người vợ ngạc nhiên vì mình có giấu kim cương vào hũ bao giờ đâu, nhưng nghe lệnh của thỏ, chị cũng đành khuân hết các hũ nhà mình ra trước toà. Bấy giờ thỏ mới bảo rằng:

- Ai trong hai người không dùng tay, không được chạm vào hũ mà chui vào trong hũ ngậm được viên kim cương ra thì người đó chính là chồng người đàn bà này.

Nghe lệnh như thế, quỷ ta mừng lắm, bèn rùng mình, chui ngay vào hũ đầu tiên, thỏ ta bèn ra lệnh cho người chồng thật bịt ngay miệng hũ lại, mang vứt xuống sông. Quan toà ngơ ngác, thì thỏ cười mà rằng:

- Phải vứt nó đi thôi, giam nó vào hũ vì nó là yêu tinh. Chỉ yêu tinh mới có thể chui vào trong hũ. Thôi hai vợ chồng anh về nhà đi. Đừng chần chừ ở đây mà quan toà ác hơn cả yêu tinh lại cướp mất vợ của anh, thì thỏ tôi cũng đành bó tay không còn cách gì giúp nữa đâu.

Dứt lời thỏ nhảy tót vào rừng làm cho đám quan toà tức điên lên mà chẳng kịp làm gì cả...

truyen co tich chu tho tinh khon

Cóc Kiện Trời


Thủa xa xưa, Ngọc Hoàng cai quản tất cả các việc trên trời và dưới đất. Ngọc Hoàng giao cho thần Mưa chịu trách nhiệm làm mưa cho tất cả các con vật và cây cỏ có nước uống.
Nhưng đã ba năm nay, không có một giọt mưa nào. Khắp nơi đất đai nứt nẻ, cây cỏ khát nước chết rụi, các con thú cũng chết dần chết mòn vì khát. Muôn loài đều kêu than ai oán, vậy mà trời đâu có thấu.

Một hôm, các con vật họp bàn nhau lại, chúng quyết định cử Cóc lên gặp Ngọc Hoàng. Cùng đi với Cóc có Cáo, Gấu và Cọp.

Bốn con vật đi mãi, cuối cùng cũng lên đến cửa nhà trời. Ở cửa có đặt cái trống rất to. Theo tục lệ nếu ai có điều gì oan ức thì đánh trống lên. Ngọc Hoàng sẽ ra giải quyết. Cóc bảo Cáo, Gấu, Cọp nấp vào bụi rậm, còn Cóc thì nhảy lên đánh trống inh ỏi.

Ngọc Hoàng nghe tiếng trống liền sai một thiên thần ra nhìn xem ai. Thiên thần bước ra nhìn ngược, nhìn xuôi mãi cũng không thấy ai, chỉ thấy con Cóc bé nhỏ ngồi trên trống. Khi biết Cóc có ý định gặp Ngọc Hoàng để kêu oan, thiên thần tỏ ý khinh bỉ Cóc, lẳng lặng đi vào và thưa với Ngọc Hoàng.

- Thưa Ngọc Hoàng, kẻ dám cả gan đánh trống ầm ĩ nhà trời là một con Cóc bé tí, xấu xí khinh khủng, thần hỏi nó đi đâu, nó nói lên Ngọc Hoàng để kiện.

Ngọc Hoàng nghe thiên thần nói như vậy thì lấy làm giận lắm, bèn sai bầy Gà ra mổ Cóc. Nhưng bầy Gà vừa ló khỏi cửa, Cóc ra hiệu cho Cáo từ bụi rậm xong ra vồ gà.

Biết Gà bị Cáo vồ mất, Ngọc Hoàng liền sai Chó ra giết Cáo. Chó chạy ra chỉ kịp sủa “Gâu gâu gâu ” mấy tiếng đã bị Gấu ra chộp lấy tha đi. Ngọc Hoàng lại sai một toán lính ra trị Gấu. Lần này, Cọp xông ra quật chết toán lính không còn sót một người nào.

Ngọc Hoàng không ngờ Cóc tuy bé nhỏ mà lại khó trị như vậy, Ngọc Hoàng đổi giận thành làm lành sai thiên thần ra mời Cóc vào. Ngọc Hoàng hỏi Cóc:

- “Cậu” lên đây có việc gì?
Cóc thưa:
- Muôn tâu Ngọc Hoàng, đã 3 năm nay chúng tôi không được một giọt mưa nào. Loài vật cử tôi lên đây để kiện trời, vì sao không làm mưa?

Ngọc Hoàng cho gọi thần mưa đến. Té ra thần Mưa mải rong chơi tối về đắp chiếu nằm ngủ, quên không làm mưa bị Ngọc Hoàng trách mắng, thần Mưa vội sai các con rồng phun nước ào ào xuống đất. Ngọc Hoàng đưa tiễn Cóc ra về và dặn:

- Từ nay về sau, nếu cần mưa thì Cóc nghiến răng ken két báo cho Ngọc Hoàng biết. Ta sẽ sai thần làm mưa ngay. Cóc không phải lên kiện trời nữa.

Cóc, Cáo, Gấu, Cọp từ biệt Ngọc Hoàng trở về dưới đất. Khi bốn con vật đến nơi thì thấy nước đã tràn đầy hồ, ao, sông, suối, cây cỏ, muôn loài uống nước thỏa thuê. Tất cả đều phục Cóc bé tí mà kiện được trời nên đặt ra câu hát:

“Con cóc là cậu ông trời. Hễ ai đánh Cóc thì trời đánh cho”.

truyện cổ tích andersen cóc kiện trời

Quả Bầu Kì Lạ


Tờ Chú nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài. Tờ Chú phải đi ờ cho chủ làng để lấy cơm gạo nuôi thân, nuôi mẹ.Nhà chủ làng giàu lắm, trâu hàng đàn, voi hàng lũ, ruộng chim bay mỏi cánh, muông thú chạy chồn chân không hết. Tờ Chú không ao ước gì hơn ngoài mảnh ruộng, đám nương để cấy lúa, trồng ngô nuôi mẹ.

Một hôm Tờ Chú nói vơi chủ làng:

- Tôi không muốn ở thuê cho chủ làng mãi. Tôi muốn có một mảnh ruộng, một đám nương. Chủ làng có thể cho tôi một khoảng rừng để tôi phái nương, vỡ ruộng được không?

Chủ làng nghe chàng trai nói vậy, lắc đầu.

Nhiều lần Tờ Chú hỏi xin nhưng không lần nào chủa làng trả lời cả. Một hôm chủ làng đang uống rượu, Tờ Chú lại vào xin. Hắn bực mình chỉ lên dãy núi xanh xanh phía chân trời và nói:

- Thôi được, mày đã muốn thì tao cũng chẳng tiếc nữa. Nếu mày có sức thì cả dãy núi kia, tha hồ cho mày phát.

Nghe chủ làng nói thế, Tờ Chú sung sướng quá, vội chạy về báo tin cho mẹ biết. Mẹ khuyên:

- Con chớ nên đi, dãy núi hoang kia là chỗ ở của hùm beo, rắn rết. Con lên đấy sẽ bị chết mất xác. Rồi đây, ai thay con nuôi nấng, chăm sóc mẹ?

Tờ Chú an ủi:

- Mẹ không lo. Hùm beo con chẳng sợ, rắn rết con chẳng kinh. Chủ làng đã cho đất, nhất định con sẽ phát được nương, vỡ được ruộng.

Thấy con quả quyết, người mẹ cũng không can ngăn nữa. Sáng hôm sau, Tờ Chú từ biệt mẹ lên đường. Chàng cứ nhắm hướng núi xanh trước mặt mà đi. Đi mãi, suốt chín ngày, chín đêm liền không nghỉ, ngày thứ mười, Tờ Chú đến chân núi. Đó là một khu rừng rộng bạt ngàn, cây to cây nhỏ chen nhau kín mặt đất. Chàn dùng tay không bẻ gãy cây nhỏ, lấy đá đập đổ cây to. Qua chín ngày, chín đêm nữa, Tờ Chú đã khai phá được một khu đất rộng. Đến ngày thứ mười, anh bỗng thấy một con chim gõ kiến bay đến nói:

- Nghĩ tay một tý đã, Tờ Chú. Tôi có câu chuyện muốn nói vơi anh. Hãy để cho loài chim chúng tôi ít cây để làm tổ. Rẫy của anh đã dài hơn rẫy chủ làng rồi đó. Tôi bay rã cả cánh ra rồi mà vẫn không hết đám rẫy anh vừa phát.

Nghe chim gõ kiến nói, Tờ Chú ngưng tay không phát theo chiều dọc nữa. Chàng quay lại phát chiều ngang. Cũng đến ngày thứ mười thì chàng thấy một con nai vàng từ trong rừng chạy ra, nói:

- Rẫy của anh rộng gập đôi rẫy của chủ làng rồi. Tôi chạy đã mỏi cả gối mà vẫn không hết. Anh hãy dành chỗ đất cho loài thú chúng tôi.

Tờ Chú nghe lời nai, ngừng tay. Đúng là rẫy của chàng bề dài hơn rẫy của chủ làng, bề ngang rộng hơn rẫy chủ làng. Từ nay, gia đình chàng sẽ có ngô, lúa. Tờ Chú đập đá lấy lửa đốt rẫy. Xong việc, chàng về bản lấy thóc giống lên gieo. Nhưng khi về đến nhà, bao nhiêu thóc giống, mẹ chàng đã ăn hết cả rồi. Chàng hỏi vay các nhà trong bản, nhưng chẳng ai còn thóc cho chàng vay. Cùng đường, Tờ Chú phải đến nhà chủ làng vay thóc giống. Tên chủ làng nham hiểm cho chàng vay loại thóc đã luộc chín rồi. Tờ Chú không biết cứ mang lên rẫy gieo. Không thấy lúa mọc, chàng lại đến nhà chủ làng vay lần nữa. Chủ làng nói:

- Giàng không cho mày sướng đâu ,Tờ Chú ạ. Mày đừng phí công vô ích. Nếu lần này mày gieo không mọc thì đúng là cái số mày như vậy. Mày lại đến ở thuê cho tao thôi.

Đúng như chủ làng nói, lần thứ hai, Tờ Chú gieo lúa vẫn không mọc. Nhìn cả đám rẫy, cỏ đã bắt đầu mọc, cây non đã đâm chồi. Tờ Chú buồn quá ngồi khóc. Chắc là Giàng không muốn cho mẹ con chàng có gạo cơm, bỗng thấy một quả bầu khô từ đâu trôi đến, đụng vào chân. Bực mình, chàng đá quả bầu cho trôi theo dòng nước, nhưng nó lại trôi trở lại, đụng vào chân chàng. Hai ba lần như vậy, Tờ Chú nghĩ: “Hay là mình trồng bầu ăn vậy. Ăn bầu người cũng sống được. Nếu không, mình chỉ còn cách là lại đi làm thuê cho chủ làng”...

truyen co tich andersen qua bau ki la

Bác Nông Dân và Con Quỷ


Ngày xưa, có một bác nông dân đang làm ruộng trên cánh đồng, sau một ngày dài vất vả cuốc bẫm, bác chuẩn bị ra về thì trời sẩm tối. Bỗng nhiên bác nhìn thấy ở giữa ruộng của mình có một đống lửa đang cháy sáng rực. Bác rất ngạc nhiên, tiến lại phía bên đống lửa thì thấy một con quỷ nhỏ ngồi giữa đống lửa, bác nông dân liền hỏi:

- Phía dưới chỗ mi ngồi là của quý phải không?

Con quỷ xác nhận:

- Đúng vậy, ta đang ngồi trên đống của quý, rất nhiều vàng bạc, chau bóc ngọc ngà mà cả đời nhà ngươi chưa chắc gì nhìn thấy được.

Rất tự nhiên không chút suy nghĩ, bác ta liền nói:

- Của quý nằm trên cánh đồng của ta thì nó thuộc về ta. Không cần ngươi bảo vệ, hãy đi khỏi đây để ta lấy nó mang về nhà.
Con quỷ chẳng những không phản đối mà còn đồng ý giao của quý ấy cho bác nông dân nhưng với một điều kiện do nó đưa ra:

_ Của quý ấy sẽ là của ngươi, nếu ngươi chịu chia cho ta một nửa số hoa màu trên cánh đồng này trong ba năm liền. Ngươi nên nhớ, chỉ khi nào ta đã hưởng thụ đủ hoa lợi ba năm liền thì của quý ấy mới là của riêng ngươi.

Bác nông dân nghe con quỷ nói thế, không chút đắn đo, chấp nhận ngay yêu cầu của nó, bác ta nói:

- Được lắm, việc chia hoa màu năm nay như sau : Ta thu hoạch phần nằm dưới mặt đất, còn ngươi thu hoạch phần nằm trên mặt đất. Ý ngươi như thế nào?

Con quỷ hoan hỉ nói:

- Rất công bằng, phần ai nấy hưởng.

Và trong năm ấy, trên cánh đồng, bác nông dân toàn gieo củ cải đường. Đến mùa bới củ cải, quỷ hiện lên để lấy phần hoa lợi của mình thì chỉ thấy rặt có lá úa vàng, còn bác nông dân thì quá hài lòng đào bới thu hoạch củ cải đường chất đống mang về nhà...

truyen co tich andersen bac nong dan va con quy

Hai Anh Em và Con Chó Đá


Ngày xưa có hai anh em ruột, người nào cũng đã có vợ và ở riêng. Vợ chồng người anh thóc bồ rạ đụn, có của ăn của để, nhưng keo cú thì không ai bằng. Trái lại, vợ chồng người em tuy không đất cắm dùi nhưng lại tốt bụng, đối đãi với bà con làng xóm như bát nước đầy. Tuy họ phải đi làm thuê làm mướn nuôi thân, nhưng ai nghèo khó vẫn sẵn lòng giúp đỡ.

Một hôm có lão ăn mày rách rưới lần vào ngõ nhà người anh để xin ăn. Nhưng vợ chồng nhà này vừa trông thấy lão thì mặt đã rắn lại như đá cuội. Chúng đã không thí cho lão chút gì lại còn thả chó dữ ra khiến lão phải nhanh chân lủi bước. Khi lão lọt vào cổng của nhà người em thì vợ chồng nhà này đang ăn cháo bữa chiều. Trông thây ông già có vẻ đói lả người chồng liền ra dắt tay đưa vào ngồi bên cạnh mâm. Anh bảo vợ múc cháo thêm ra bát, và nói:

- Mời cụ ngồi ăn bát cháo với chúng tôi cho đỡ dạ, rồi hãy đi nhà khác.

Ông lão ăn xong một bát, lại xin thêm bát nữa, rồi bát nữa. Tuy cháo không nhiều, hai vợ chồng vẫn múc không ngần ngại. Ăn xong, ông lão chống gậy đứng lên rồi bỗng đột ngột bảo hai người:

- Các con nghèo mà lại thảo, thật là đáng quý. Ta biết có một chỗ có nhiều vàng bạc. Vậy hãy theo ta lên núi, ta chỉ cho.

Cả hai vợ chồng nhìn nhau ngơ ngác. Thấy ông lão thúc giục đôi ba phen mới tin là ông không đánh lừa, bèn đánh bạo đi theo lên núi. Trèo lên một hòn núi cao đã nhìn thấy một nền gạch có mấy bậc thềm. Vào sâu một đoạn nữa, thấy có hai con chó đá đang chầu trước một cái bệ. Ông lão bước lại gần, sẵn cái gậy trúc ở tay, ông cầm gõ vào đầu chó ba cái. Bỗng nhiên chó đá há miệng thật to. Ông lão bảo:

- Đấy. Các con muốn lấy bao nhiêu vàng bạc thì lấy!

Hai vợ chồng đang rụt rè thì bỗng chốc ông lão đã biến đi đâu mất. Chồng đánh bạo thò tay vào miệng chó mà khoắng thì quả nhiên lấy ra được những thỏi sáng giấp giới. Bèn lấy vội mỗi người mấy thỏi giắt lưng đem về. Từ đó họ giàu có sung sướng.

Vợ chồng người anh thấy em đang nghèo xơ nghèo xác bỗng chốc tậu ruộng, làm nhà, mua trâu, thuê người v.v..., thì hết sức ngạc nhiên. Bèn tìm đến nhà em để xem tai sao lại có chuyện lạ lùng như vậy. Vợ chồng người em vốn thật bụng, vui lòng kể lại vận đỏ gặp một ông tiên giả dạng ăn mày cho anh chị nghe. Nghe xong, người anh vội nói:

- Tưởng là ai chứ ông lão ấy thì hôm nọ có đến ăn xin ở bên nhà. Rõ tiếc chửa. Thế mà chúng ta lại không biết.

Từ đó, hai vợ chồng người anh thường để ý tìm ông lão ăn xin, hy vọng được của như em. Họ cất công đi các chợ búa làng mạc. Họ còn thuê người đến tận các nơi xa để tìm tòi, nhưng chẳng thấy bóng dáng đâu cả. Một hôm vừa ra khỏi cổng, người chồng đã bắt gặp ông lão đang ngồi bên vệ đường, vẫn chiếc áo nâu rách, cây gậy trúc, và bộ râu trắng xóa không thể lầm vào đâu được. Hắn bèn chạy ngay đến, cung kính chào hỏi và khác với lần trước, hắn cố chèo kéo ông lão về nhà mình cho bằng được. Khi ông lão đã ngồi yên vị đâu đấy, hắn quát người nhà giết gà làm cỗ mời ông lão xơi. Đợi cho ông ăn xong, hai vợ chồng mới đến gần, quỳ xuống nói.

- Hôm nọ tiên ông giúp cho nhà chú nó được vàng được bạc, thật là quý hóa. Chúng tôi với chú nó là chỗ ruột rà. Vậy xin tiên ông rủ lòng thương cho cả hai anh em được đội ơn luôn thể. Vợ chồng chúng tôi không bao giờ quên.

Ông lão nghe xong, gật gù nói:

- Cũng được. Vậy thì hãy đi theo lão.

Hai vợ chồng hí hửng mang theo quang gánh lật đật chạy theo. Đi đến nơi: ông lão cũng dùng gậy trúc gõ vào đầu một con chó đá. Chó vừa há miệng thì chồng đã nhanh tay thò vào. Nhưng tay hắn chưa kịp rút ra thì chó đá đã ngậm miệng lại. Hắn ta cuống cuồng quay lại cầu cứu tiên ông thì tiên ông đã biến mất từ lúc nào. Vợ cố lôi kéo hộ chồng, nhưng miệng chó đá ngậm chặt không thể gỡ nổi.

- Thôi đích là ông tiên trừng phạt về tội tham lam của chúng ta.

Nói xong, hai vợ chồng nhìn nhau khóc lóc than thở. Cuối cùng chồng bảo vợ: - "Nay chết thì không chết, mà rút cũng không rút ra được. Bây giờ trời đã chiều, nàng hãy về kiếm cơm cháo hàng ngày đưa lên cho tôi với để may chi kéo dài cuộc sống thừa".

Từ đó hằng ngày vợ lo cơm nước lên núi cho chồng ăn. Khi chồng ăn xong, vợ lại về để chuẩn bị cho ngày mai. Cứ như thế, trong ba năm đi đi về về không biết mệt, người vợ cũng đã bán hết ruộng vườn nhà cửa để cung đốn cho chồng.

Một hôm, sau khi ăn xong, chồng bảo vợ:

- Ta vì tham của nên mới ra nông nỗi này. Nay tài sản đã khánh kiệt chắc không thể kéo dài cuộc sống như thế này được mãi. Thôi sẵn hôm nay vắng vẻ, nàng hãy xích lại đây cho ta được vui đùa một lát, kẻo chết là hết.

Thấy chồng van nài nhiều lần, vợ cũng thương hại, bèn chiều chồng, xích lại một bên. Nhưng khi vợ vừa cởi áo xống thì chó đá đã há miệng ra cười. Chồng vội vàng rút cánh tay bị cầm giữ bấy lâu trong hàm chó. Rồi cả hai chẳng nghĩ đến sửa soạn, cứ thế chạy một mạch xuống núi. không dám ngoảnh cổ lại.

Ngày nay còn có câu tục ngữ: "Chó đá biết cười", ý nói có những việc thậm chí làm cho chó đá cũng không thể nhịn được, là do truyện trên mà ra.

truyen co tich andersen hai anh em va con cho da

Đứa Con Vàng


Xưa có hai vợ chồng nhà kia rất nghèo. Của cải chỉ có độc một túp lều nhỏ. Ngày ngày hai người đi bắt cá, làm chẳng đủ ăn. Bỗng một hôm, người chồng thả lưới xuống nước cất lên được một con cá toàn vàng.

Bác còn đang kinh ngạc ngắm nghía thì thấy cá lên tiếng nói:

- Này, bác đánh cá ơi, xin hãy ném trả tôi xuống nước, tôi sẽ biến túp lều nhỏ của bác thành một tòa lâu đài tráng lệ.

Bác đánh cá đáp:

- Ăn còn không có, lâu đài để làm gì?

Cá vàng nói tiếp:

- Tôi sẽ lo cả chuyện đó cho bác nữa. Trong nhà sẽ có một cái tủ. Bác cứ việc mở ra là đã sẵn thức ăn ngon trong đó rồi. Toàn cao lương mĩ vị, muốn bao nhiêu cũng có.

Bác đánh cá đáp:

- Nếu thế thì ta làm ơn cho mi cũng được thôi.

Cá nói:

- Vâng, song bác phải hứa với tôi một điều, bác không để lộ cho bất kì ai trên thế gian này biết sự may mắn của bác do đâu mà có.

Chỉ cần bác hé ra một lời là bác sẽ lại mất hết.

Bác đánh cá bèn ném trả con cá thân xuống nước rồi về nhà.

Tới nơi, bác chẳng thấy túp lều đâu nữa, giờ đây là cả một tòa lâu đài đồ sộ. Bác đứng nhìn hồi lâu rồi bước vào nhà thì gặp bác gái, quần áo lộng lẫy, đang ngồi trong một căn phòng vô cùng tráng lệ.

Bác gái có vẻ hả hê lắm, cứ hỏi bác:

- Mình ơi sao bỗng dưng lại được thế này? Ôi sung sướng quá!

- Phải - bác đáp - Tôi cũng vui sướng. Nhưng này, đói lắm rồi đấy, dọn cái gì ăn đi.

Bác gái bảo:

- Tôi chẳng có gì đâu, mà cũng không biết trong tòa nhà mới này có gì hay không?

Bác trai nói:

- Không khó đâu, đằng kia có một cái tủ lớn, lại mở ra xem nào.

Bác gái mở ra thì thấy bên trong nào bánh nào thịt, nào hoa quả, nào rượu nho như mời mọc.

Bác sướng quá kêu lên:

- Ta còn ước gì hơn nữa?

Hai người ngồi xuống cùng ăn uống. Ăn đã no, bác gái hỏi:

- Nhưng nhà này, của ở đâu thế?

- Chà - bác trai đáp - hỏi chuyện ấy làm gì, tôi không nói được đâu. Tôi mà hở ra cho ai biết thì chúng mình sẽ lại mất hết.

Bác gái nói:

- Được, nếu như không được phép biết thì tôi cũng chẳng thiết hỏi làm gì.

Tuy miệng nói thế nhưng bụng lại nghĩ khác, đêm ngày bác ta đứng ngồi không yên. Bác cứ giày vò thúc bác trai mãi, kỳ cho đến khi bác trai sốt ruột, kể cho bác biết câu chuyện con cá thần đã bị bắt, được thả như thế nào. Kể chưa dứt lời, tòa lâu đài tráng lệ với cái tủ kia đã biến đâu mất. Hai người lại ngồi trong túp lều đánh cá cũ.

Người chồng lại phải bắt cá kiếm ăn. Dường như vận may đã định, bác lại bắt được con cá vàng phen nữa. Cá nói với bác:

- Này nếu như bác lại thả tôi thì tôi sẽ trả cho bác tòa lâu đài với cái tủ kia, đầy ắp những thứ nấu và rán cho bác. Bằng không sẽ lại mất hết.

Bác đánh cá đáp:

- Tôi sẽ cố giữ.

Bác ném con cá xuống nước. Về đến nhà, bác lại giàu có như trước. Bác gái hả hê vô cùng, song sự tò mò vẫn chưa thôi day dứt bác. Chỉ vài ngày sau, bác lại tỉ tê dò hỏi nguyên do sự việc. Bác trai mới đầu còn giữ, nhưng sau tức vợ quá bác kể tuột luôn mọi chuyện. Tức thì chỉ trong nháy mắt, tòa lâu đài biến mất, hai người lại ngồi trong túp lều cũ. Bác trai phàn nàn:

- Đã thấy chưa, giờ rồi đến chết đói.

Bác gái đáp:

- Ôi chà, thà không có của còn hơn có mà chẳng biết của từ đâu đến, bảo tôi im sao được.

Người chồng lại đi bắt cá. Ít lâu sau, bác lại bắt được con cá vàng lần thứ ba. Cá nói:

- Này, thế là cái phận tôi không thể thoát tay bác rồi. Bác cứ đem tôi về chặt làm sáu khúc, hai khúc cho bác gái ăn, hai khúc cho con ngựa của bác ăn, còn hai khúc chôn xuống đất rồi bác sẽ được phú quý.

Bác trai xách con cá về nhà, làm đúng theo lời căn dặn. Kết quả là sau đó hai khúc cá chôn dưới đất biến thành hai cây huệ vàng, con ngựa đẻ ra một đôi ngựa con bằng vàng và bác gái sinh được hai đứa con cũng toàn vàng.

Hai đứa trẻ lớn lên nom vừa khỏe vừa đẹp, hai cây huệ với đôi ngựa con cũng lớn lên.

Hai con bảo bố:

- Cha ơi, chúng con muốn lên ngựa vàng đi giang hồ bốn bể một phen.

Bác trai bối rối đáp:

- Để các con đi mà rồi đây cha không biết được các con ra sao thì cha đành lòng sao được? Hai con nói:

- Hai cây huệ vàng vẫn còn đây, cha cứ xem hoa khắc biết chúng con thế nào. Hoa cứ tươi là chúng con vẫn khỏe, hoa héo là chúng con đang ốm, hoa rụng đi là chúng con đã chết.

Hai con lên ngựa ra đi. Tới một quán trọ kia, bên trong rất đông khách, mọi người thấy hai đứa trẻ bằng vàng đi vào cứ khúc khích cười và lên tiếng đùa cợt. Một chú nghe thấy người ta chế nhạo, phát ngượng không muốn đi nữa, mới quay về nhà với bố.

Còn chú kia vẫn cưỡi ngựa đi, đi tới một khu rừng lớn, chú vừa định giục ngựa vài rừng thì có người bảo:

- Không được đâu, không thể đi qua được đâu, trong đó toàn bọn cướp của giết người, tất chúng sẽ sinh chuyện. Nhất là khi chúng lại thấy chú và ngựa của chú toàn bằng vàng, chúng sẽ giết chú mất.

Song chú bé không sợ, chú bảo:

- Nhất định tôi phải đi và sẽ đi được. Chú lấy da gấu, phủ lên mình và phủ cho ngựa để không ai thấy đó là vàng nữa, rồi ung dung giục ngựa phi nước kiệu vào rừng. Mới đi được một quãng thì thấy có tiếng xì xào trong bụi. Chú nghe rõ tiếng người gọi nhau.

Phía này gọi:

- Có một đứa vào đấy.

Phía kia đáp:

- Cho nó đi. Cái đồ vô dụng ấy, kiết xác mà trần trụi như một con chuột trong xó nhà thờ, được việc gì !

Thế là chú bé vàng may mắn lọt qua được khu rừng, bình yên vô sự.

Một hôm khác, chú tới một làng kia. Chú gặp một cô thiếu nữ xinh đẹp quá, tưởng chừng như ở trên đời này không thể còn ai xinh đẹp hơn. Chú thấy yêu cô nàng vô cùng, mới lại gần hỏi:

- Ta rất yêu nàng, yêu tha thiết, nàng có ưng lấy ta không?

Người thiếu nữ nhìn chú cũng thấy ưng ý nên bằng lòng ngay và bảo:

- Vâng, thiếp xin theo lời chàng, thiếp nguyện suốt đời sẽ chung thủy với chàng. Hai người làm lễ cưới. Đang giữa cuộc vui, bỗng bố cô dâu về. Thấy lễ cưới con gái, bác ta ngạc nhiên lắm, hỏi:

- Thế chú rể đâu?

Mọi người chỉ chú bé vàng, lúc này vẫn còn đang khoác tấm da gấu. Người bố nổi giận, quát:

- Không đời nào ta chịu gả con cho những quân vô dụng.

Bác ta muốn giết chú rể vàng.

Cô dâu vội ra sức van xin và nói:

- Dù sao thì chàng cũng đã là chồng con rồi, con rất thương chàng. Sau rồi người bố cũng xiêu lòng, nhưng trong dạ vẫn chưa được yên. Sáng hôm sau bác trở dậy thật sớm muốn xem kỹ con rể, có đúng chỉ là một tên ăn mày tầm thường rách rưới không. Song người nằm trong giường lại là một chàng trai rất đẹp, toàn bằng vàng, tấm da gấu vất bỏ dưới đất. Bác quay trở ra, nghĩ bụng: "Tốt quá, may mà mình kìm được cơn nóng, bằng không đã phạm sai lầm lớn".

Trong lúc đó thì chàng người vàng đang mơ màng, thấy mình săn trượt theo một con hươu rất đẹp. Lát sau tỉnh giấc, chàng bảo vợ:

- Ta muốn đi săn một bữa.

Người vợ thấy lo, nài chồng ở nhà. Nàng bảo:

- Chỉ sợ sẽ xảy ra vạ lớn cho chàng.

Nhưng chàng gạt đi:

- Ta phải đi và nhất định đi được.

Nói xong chàng đứng lên đi luôn vào rừng. Đi mới được một lát đã thấy một con hươu ngạo nghễ đứng chắn ngang đường, đúng như trong giấc mơ. Chàng vừa giơ súng toan bắn thì hươu đã nhảy vọt đi mất. Chàng liền rượt theo, băng qua hố qua bụi, suốt ngày hôm đó mà không thấy mệt. Đến chiều thì con hươu biến đi đâu mất. Chàng người vàng nhìn quanh quất thấy phía trước có một ngôi nhà nhỏ. Trong nhà có một mụ phù thủy đang ngồi. Chàng gỗ cửa. Mụ già bước ra cất tiếng hỏi:

- Ngày đã muộn thế này mà ngươi còn quanh quẩn làm chi trong rừng?

Chàng hỏi lại:

- Bà có thấy con hươu nào chạy qua không?

- Có, - mụ đáp - Con hươu ấy ta biết rõ lắm.

Vừa lúc ấy, một con chó nhỏ theo mụ từ trong nhà ra cứ hướng vào chàng trai mà sủa ầm ĩ.

Chàng mắng nó:

- Có câm không, đồ khốn. Ta lại cho mi một phát chết tươi bây giờ.

Mụ phù thủy nổi nóng hét lên:

- Sao, mi muốn giết chó của ta à?

Mụ phù thủy biến luôn chàng trai thành đá nằm lì tại đó.

Vợ ở nhà đợi mãi không thấy chồng về, nghĩ bụng: "Chắc đã xảy ra chuyện gì rồi". Nàng lo buồn hết sức.

Trong lúc đó, ở nhà người em đang đứng bên hai cây huệ vàng bỗng thấy một bông gục xuống. Chàng kêu lên:

- Trời ơi, anh con gặp vạ lớn rồi, phải đi ngay, may ra còn cứu được.

Người cha gạt đi:

- Ở nhà thôi, mất nốt con thì bố biết làm sao?

Nhưng người con vẫn kiên quyết:

- Con phải đi và nhất định đi.

Chàng bèn cưỡi lên con ngựa vàng, phóng ngựa phi thẳng đến khu rừng lớn, chỗ anh chàng đã bị hóa đá. Mụ phù thủy già ở trong nhà chạy ra, gọi chàng và có ý định bắt nốt chàng, song chàng không lại gần mà chỉ gọi với lại:

- Nếu như mi không làm cho anh ta sống lại thì ta sẽ bắn chết mi.

Mụ phù thủy buộc lòng phải đặt ngón tay lên tảng đá, tức thì tảng đá lại hóa thành người. Hai người con vàng gặp lại nhau, vui mừng khôn xiết, ôm hôn nhau rồi cùng lên ngựa ra khỏi rừng. Một người về nhà vợ, còn người kia về nhà cha mẹ. Người cha bảo:

- Cha cũng biết là con đã cứu được anh con rồi, vì cha thấy bông huệ vàng kia lại đứng thẳng và tươi như cũ. Họ sống rất hạnh phúc đến trọn đời.

truyện cổ tích andersen đứa con vàng

Mẹ Hiền Dậy Con


Vào một đem Giáng sinh, một thiếu phụ mang thai lần bước đến nhà một người bạn nhờ giúp đỡ. Con đường ngắn dẫn đến nhà người bạn có một mương sâu với cây cầu bắc ngang. Người thiếu phụ trẻ bỗng trượt chân chúi về phía trước, cơn đau đẻ quặn lên trong chị. Chị hiểu rằng mình không thể đi xa hơn được nữa. Chị bò người phía bên dưới cầu.

Đơn độc giữa những chân cầu, chị đã sinh ra một bé trai. Không có gì ngoài những chiếc áo bông dày đang mặc, chị lần lượt gỡ bỏ áo quần và quấn quanh mình đưa con bé xíu, vòng từng vòng giống như một cái kén. Thế rồi tìm thấy được một miếng bao tải, chị trùm vào người và kiệt sức bên cạnh con.

Sáng hôm sau, một người phụ nữ lái xe đến gần chiếc cầu, chiếc xe bỗng chết máy.Bước ra khỏi xe và băng qua cầu, bà mẹ nghe một tiếng khóc yếu ớt bên dưới. Bà chui xuống cầu để tìm.Nơi đó bà thấy một đứa bé nhỏ xíu, đói lả nhưng vẫn còn ấm, còn người mẹ đã chết cóng.

Bà đem đưa bé về và nuôi dưỡng. Khi lớn lên, cậu bé thường hay đòi mẹ nuôi kể lại câu chuyện đã tìm thấy mình. Vào một ngày lễ Giáng sinh, đó là sinh nhật lần thứ 12, cậu bé nhờ mẹ nuôi đưa đến mộ người mẹ tội nghiệp. Khi đến nơi, cậu bé bảo mẹ nuôi đợi ở xa trong lúc cậu cầu nguyện. Cậu bé đứng cạnh ngôi mộ, cúi đầu và khóc. Thế rồi cậu bắt đầu cởi quần áo . Bà mẹ nuôi đứng nhìn sững sờ khi cậu bé lần lượt cởi bỏ tất cả và đặt lên mộ mẹ mình.

"Chắc là cậu sẽ không cởi bỏ tất cả - bà mẹ nuôi nghĩ - cậu sẽ lạnh cóng!". Song cậu bé đã tháo bỏ tất cả và đứng run rẩy. Bà mẹ nuôi đi đến bên cạnh và bảo cậu bé mặc đồ trở lại. Bà nghe cậu bé gọi người mẹ mà cậu chưa bao giờ biết: "Mẹ đã lạnh hơn con lúc này, phải không mẹ?" Và cậu bé oà khóc...

truyen co tich andersen me hien day con

Bà Chúa Ong


Truyện dành cho bé - Ngày xưa có một người học trò nhà nghèo rớt mùng tơi tên là Sĩ. Anh ở với bà mẹ già lụ khụ. Anh muốn lấy vợ để vợ đỡ đần công việc nhà và phụng dưỡng mẹ già, nhưng hỏi mấy đám, người ta thấy nhà anh quanh năm thiếu ăn nên đều lắc đầu từ chối. Vì thế, anh vẫn phải sống một thân một mình với nghề đi củi. Hằng ngày buổi sáng tinh sương, anh lên rừng chặt củi đem ra chợ bán. Chiều lại, ăn xong, anh mới cầm lấy quyển sách.

Cứ như vậy cho đến ngày anh học thành tài. Kỳ ấy, nhà vua mở khoa thi ở kinh đô để kén nhân tài. Các sĩ tử đua nhau chuẩn bị tiền gạo lều chiếu để vào dự thi. Trong lòng Sĩ cũng hăm hở muốn đua chen chốn trường văn trận bút, nhưng tài lực nhà anh quá kém cỏi, chẳng biết lấy gì để nuôi mẹ già trong những ngày vắng mặt, cũng chẳng có gì để dùng ăn tiêu dọc đường. Sắp đến kỳ thi, mấy người bạn anh lần lượt trẩy kinh mà không rủ anh. Sĩ cố chạy vạy mấy nơi, nhưng không kết quả. Mãi về sau mới có mấy nhà láng giềng tốt bụng nhận nuôi nấng mẹ già cho anh để anh yên tâm ra đi. Và rồi cuối cùng anh cũng đánh liều cất bước lên đường, tuy rằng trong lưng không có một đồng một chữ.

Thoạt đầu anh gánh hàng thuê cho bọn lái buôn. Làm hết hơi hết sức trong hai ngày, anh nhận được ở họ cơm ăn và một quan tiền công. Có vốn, anh lại tiếp tục đi nữa. Sau hai ngày tiêu rất dè sẻn, số tiền mới kiếm được cũng lại hết nhẵn. Mặc dầu vậy, anh vẫn không dừng lại, hy vọng dọc đường sẽ tìm được việc làm. Nhưng rủi thay, ngày hôm ấy, trời mưa, không một ai thuê mướn cả. Vì chỉ còn ba ngày nữa đã bắt đầu nhập trường, anh không thể nấn ná được. Đành phải cắm cúi bước liều trong lúc không có một hột gì vào bụng. Trời xế chiều, anh đi tới một khu rừng rậm.

Trong khi đang bước thấp bước cao mong tìm ra một ngôi nhà nghỉ trọ, thì anh bị lạc đường. Anh đi quanh quẩn mãi giữa đêm tối trong lùm cây mà không nghe một tiếng gà gáy, chó sủa. Cuối cùng bụng đói, cật rét, sức mệt, anh trèo lên một cây cổ thụ, định tìm một chỗ tạm nghỉ chân. May làm sao, lúc trèo lên đến nhánh chẽ ba, bỗng thấy thấp thoáng bên phía tay trái có ánh đèn. Lòng mừng khấp khởi, anh vội tụt xuống lần về hướng ấy. Chỉ một lát, anh đã đứng trước một ngôi nhà lá nhỏ. Anh hồi hộp gọi cửa, và rất ngạc nhiên thấy cánh cửa mở ngay như có người chờ sẵn. Một cô gái tay cầm một cây đèn sáp bước ra. Dưới ánh đèn, Sĩ trông rõ cô gái mặt mũi xinh xắn, nhưng hai mắt lại mù. Cô đon đả:

- Chào thấy khóa. Thiếp chờ thầy đã lâu. Mời thầy vào trong này.

Nghe mấy lời của chủ nhân, Sĩ không còn hồn vía nào nữa. Làm sao cô gái mù này lại biết mình là học trò và đang chờ mình. Chỉ có yêu tinh ma quỷ đang giương bẫy đón mồi thì mới có thể như vậy. Sĩ rất ngần ngại, nhưng cái bụng và sức khỏe không cho phép anh bước đi đâu được nữa. Anh đánh liều bước vào nhà và chuẩn bị đối phó mọi sự không may sẽ xảy đến. Trong nhà, ngoài cô gái còn có một người bõ già. Sau khi mời Sĩ ngồi, cô gái bảo bõ già mang hỏa lò lại cho khách hơ áo quần. Sĩ vừa cảm thấy khô ráo ấm cúng thì bõ già đã bưng lên một mâm cơn, có cô gái mù đi theo mời mọc:

- Nhà thiếp thanh đạm chẳng có gì. Xin mời thầy khóa cứ thực tình cho.

Sĩ lúc đầu ngờ vực không dám đụng đũa. Nhưng sau cơn đói đã thắng tất cả. Anh cầm lấy bát nếm thử một miếng, thấy không có vẻ gì khác, nên cắm đầu ăn. Bữa cơm quả là thanh đạm, nhưng cơm nóng canh sốt làm anh thấy chưa bao giờ ngon miệng đến thế. Ăn xong, bõ già đã dọn ổ rơm, trải chiếu cho khách nằm. Sĩ mệt quá, nằm xuống nhưng không dám ngủ, cố ý rình xem ma quỷ còn giở những trò gì. Nhưng chỉ một lúc, anh đã chợp mắt và ngủ thiếp đi...

truyen co tich andersen ba chua ong


Sự Tích Con Chuồn Chuồn


Ngày ấy trong một khu rừng có cái đầm nước thật to, mỗi con vật được  phân công một việc. Riêng Chuồn Chuồn được mọi vật giao nhiệm vụ trông  coi thời tiết. Khốn nỗi, Chuồn Chuồn làm được chăng hay chớ, chẳng chăm  chỉ, đã vậy lại còn lười. Mọi vật lo nhất là chỗ trú thân.

Hàng ngày Tò  Vò cố kiếm đất để xây những tổ đất thật to. Ve Sầu thì đi tìm những hốc  cây chắc chắn. Còn Kén Tằm thì cố sức nhả tơ làm những tổ kén dầy không  sợ gió bão...Trong khi ấy, Chuồn Chuồn vẫn mải rong chơi, không để ý làm  tổ. TòVò thấy vậy, cũng đôi lần nhắc nhở Chuồn Chuồn:


- Chuồn Chuồn ơi! Phải chú ý làm tổ thôi, chứ đến lúc có gió bão làm sao mà tránh.

Chuồn Chuồn trả lời rất chủ quan:

- Tò Vò có đôi cánh nhỏ, bay kém sợ gió bão  mới phải làm tổ. Chứ như tôi đây, cánh nhiều này, mắt nhìn rộng này, bay  khắp nơi được này...chẳng có gì phải sợ cả. Bão đến là tôi biết liền,  bay tránh chỗ khác vẫn còn kịp.

Nói rồi, Chuồn Chuồn lại bay nhởn nhơ coi như không nghe thấy những lời khuyên của bạn bè.

Khuyên mãi mà Chuồn Chuồn không nghe, các con vật xung  quanh đầm nước ấy không để ý đến Chuồn Chuồn nữa. Chúng đi tìm nhưng chỗ  trú ẩn tốt nhất phòng khi có bão đến.

Vài hôm sau,  đúng vào cái buổi Chuồn Chuồn được phân công bay lên cao theo dõi gió,  mây có gì lạ để báo cho mọi vật biết thì Chuồn Chuồn lại cụp cánh ngủ mê  mệt dưới cánh hoa sen, sau một ngày rong chơi mê mải.

Đúng thời khắc ấy, gió bão nổi lên...

truyen co tich andersen su tich con chuon chuon

Sự Tích Con Dã Tràng


Ngày xưa có một cậu bé tính rất hư, không bao giờ cậu chịu nghe lời của người lớn. Điều đó làm cho mẹ của cậu rất phiền lòng. Đã lớn rồi mà cậu vẫn ham chơi. Hôm đó mẹ nói với cậu bé vào rừng kiếm củi. Cậu bé gật đầu, cầm dao vội đi. Nhưng đi giữa đường thấy một đám trẻ đang chơi thả diều, thế là cậu bé sà vào quên ngay chuyện đi lấy củi cho mẹ. Mẹ  ở nhà, đợi lâu quá, không thấy cậu bé về, đành một mình vào rừng lấy củi. Sức yếu, chặt củi chẳng được bao nhiêu, mãi tối mịt mẹ của cậu bé  mới về. Về đến nhà, thấy ngôi nhà im ắng, bếp nguội lạnh, mẹ biết, cậu bé mải chơi vẫn chưa về, bà rất buồn.

Có hôm chum nước ở đầu hồi không còn một giọt. Mẹ đi làm đồng về vừa khát, vừa đói, bà bảo cậu bé mang thùng ra sông xách một ít nước về nấu cơm. Cậu bé “ dạ” một câu rồi xách thùng đi. Đi đến gần bờ sông thấy một đám trẻ đang đánh đáo, cậu bé quên phắt ngay chuyện mẹ dặn, vứt thùng gánh nước bên rệ đường, lao vào đánh đáo cùng đám trẻ. Bà mẹ chờ ở nhà lâu quá, đành sang nhà hàng xóm xin nước về nấu cơm. Xách thùng nước quá nặng, mới đi được nửa đường, sức lại mệt, vấp phải một hòn đá,  mẹ ngã xuống, bất tỉnh. Mọi người thấy vậy, vội đỡ bà mẹ vào nhà rồi họ chạy bổ đi tìm cậu bé.

Cậu bé hay tin, vội chạy về nhà, thấy mẹ như vậy thì cậu rất ân hận về những việc làm của mình. Mẹ của cậu bé tỉnh dậy, nhìn thấy con, nói thều thào:

- Con ơi! Mẹ già rồi, không biết còn sống với con được bao lâu nữa. Con phải nghe lời mẹ, chăm làm, đừng ham chơi. Con lười biếng, không nghe lời mẹ, cuối cùng đời con sẽ khổ.

Những tưởng mẹ nói như vậy, cậu bé sẽ nhận ra lỗi lầm của mình mà sửa chữa. Nhưng, không ! Ở cậu bé, tính nào vẫn tật nấy, ham chơi hơn ham làm. Điều đó khiến cho mẹ của cậu bé buồn lắm.

Năm đó, ở vùng quê của cậu bé nước biển gần cửa sông dâng cao, đúng lúc mẹ của cậu bé bị ốm. Còn cậu bé lúc này vẫm mải chơi tận đẩu, tận đâu. Nhìn dòng nước mênh mang trước nhà, mẹ của cậu bé lo lắm.Nước cứ dâng thế này ,chẳng bao lâu nữa là đến nền nhà này mất thôi. Nếu mình không tôn cao nền nhà, thì nước sẽ tràn vào, lấy chỗ nào mà tránh? Nghĩ như thế, mẹ của cậu bé gắng gượng ngồi dậy, lấy cái cuốc bổ đất, đắp nền. Mẹ làm cật lực, nhưng sức có hạn, lại đang bị ốm, chỉ làm được một lúc, bà gục xuống...

truyen co tich andersen su tich con da trang

Sự Tích Con Thạch Sùng


Có hai vợ chồng một người nghèo khó tên là Thạch Sùng, sống bằng nghề ăn xin và góp nhặt được một số vốn. Một hôm Thạch Sùng nhìn điềm trời đoán biết sẽ mưa lụt to, nên đem tiền lên đong gạo tất cả. Tháng Tám năm ấy trời làm một trận lụt lớn, làm giá gạo tăng vọt. Thạch Sùng đem số gạo tích trữ của mình ra bán, trở nên giàu có và thôi nghề ăn xin.

Thạch Sùng trở thành một phú ông, lại nhờ tài buôn bán và cho vay lãi, gia tài của ông ngày càng lớn, và mua được địa vị, vua phong tước cho ông tước quận công.

Em hoàng hậu họ Vương cũng là tay cự phú và tiêu tiền phí vào bậc nhất, khi gặp Thạch Sùng trong một bữa tiệc hai bên đều muốn khoe của. Ai cũng khoe mình nhiều tiền của và tự cho mình là giàu hơn. Các quan thấy vậy bèn nói:

Hai ngài cãi nhau như thế không ích gì cả. Cần phải có chứng cớ thì chúng tôi mới tin. Hai ngài hãy trưng của cải ra cho chúng tôi xem. Ai thua phải nộp cho bên được mười thúng vàng. Chúng tôi sẽ làm chứng cho...
Hai bên nhận lời và ký vào giấy giao ước, nếu ai thua cuộc thì mất toàn bộ gia sản. Hai bên mang đủ thứ tài sản trong nhà ra khoe: gấm vóc, sừng tê, ngói thuỷ tinh, đá lát nhà, san hô, ngựa thiên lý, ngọc, bạc, vàng... Vẫn không ai chịu kém ai.

Hoàng hậu lo cho em mình thua cuộc, có phái mấy viên hoạn quan nhiều mưu trí đi theo để giúp sức bày kế cho Vương Khải nên thách Thạch Sùng đưa ra mẻ kho.

Vì mẻ kho là thứ nồi đất mẻ mà chỉ nhà nào cùng khổ lắm mới dùng để nấu thức ăn, mà lúc đó Thạch Sùng đã quá giàu có, bỏ đi từ lâu không dùng nữa, không có nên đành thua cuộc.

Thạch Sùng cay đắng nhìn thấy tất cả gia sản cho đến vợ con, nàng hầu, nô tỳ... đều chạy sang tay họ Vương, ông tắc lưỡi tiếc cho cơ nghiệp tự tay mình gây dựng trong bao năm đến nay lại hoàn tay trắng. Rồi ông chết, hóa thành con thạch sùng. Thạch sùng thỉnh thoảng lại chắt lưỡi kêu lên mấy tiếng chép miệng vì tiếc của.

truyện cổ tích sự tích con thạch sùng

Powered by Blogger.
 
Support : Truyện Cổ Tích | Truyện Cổ Andersen | Truyện Andersen
Copyright © 2011. Truyện Cổ Tích Andersen - All Rights Reserved
Template Created by Truyen Co Tich Published by Truyen Co Andersen
Proudly powered by Truyen Andersen